Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2000. Dù có tốc độ tăng trưởng nhanh và tiềm năng huy động vốn lớn cho nền kinh tế, thị trường vẫn mang đặc tính non trẻ, tạo kẽ hở cho các hoạt động đầu cơ và trục lợi bất chính. Tác giả khóa luận chỉ ra rằng hành vi thao túng TTCK không chỉ gây thất thoát tài sản trực tiếp của nhà đầu tư nhỏ lẻ mà còn làm sai lệch bản chất của thị trường vốn, biến hoạt động đầu tư thành hình thức cờ bạc đỏ đen mang tính chuyển dịch dòng tiền từ người này sang người khác. Hiện tượng này làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư chân chính, khiến dòng vốn bị rút khỏi thị trường, đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó huy động vốn và tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế theo "hiệu ứng domino".

Khảo sát tình hình nghiên cứu trước đó, tác giả nhận thấy các công trình tiêu biểu như luận văn của Bùi Thanh Ngà (2007) chỉ tiếp cận chung về xử lý vi phạm trên TTCK theo Luật Chứng khoán năm 2006 mà chưa đi sâu vào hành vi thao túng; kỷ yếu hội thảo của Tạ Thị Thùy Trang (2022) chưa so sánh toàn diện sự thay đổi giữa các văn bản pháp luật qua các thời kỳ; công trình của Kiều Thị Phượng và Nguyễn Thị Đông (2013) chủ yếu phân tích hiện tượng thao túng giá mà chưa mổ xẻ khía cạnh chế tài xử lý. Từ đó, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết thông qua hai câu hỏi trọng tâm: liệu quy định pháp luật về xử lý hành vi thao túng TTCK hiện nay đã thực sự chặt chẽ hay chưa, và các chế tài áp dụng đã bảo đảm đủ tính răn đe đối với chủ thể vi phạm hay chưa.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các bất cập của pháp luật về xử lý hành vi thao túng TTCK, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật dựa trên việc tổng quan lý luận, phân tích thực trạng quy định và đánh giá thực tiễn thi hành trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu tổng quan lý luận pháp luật về xử lý hành vi thao túng TTCK trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng quy định của pháp luật về xử lý hành vi thao túng TTCK trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý hành vi thao túng TTCK trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lý hành vi thao túng TTCK trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy định pháp luật về xử lý hành vi thao túng TTCK tại Việt Nam cùng thực tiễn áp dụng các quy định này. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu từ mốc năm 2006 đến thời điểm thực hiện khóa luận (năm 2023) nhằm so sánh, đối chiếu sự thay đổi giữa Luật Chứng khoán năm 2006 với Luật Chứng khoán năm 2019 và các nghị định hướng dẫn liên quan.
  • Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và thực tiễn diễn ra trên TTCK Việt Nam.
  • Về nội dung: Khóa luận giới hạn trọng tâm nghiên cứu vào vấn đề xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi thao túng TTCK.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hệ thống khái niệm và khung pháp lý được tác giả trích dẫn và sử dụng bao gồm:

  • Khái niệm về thao túng thị trường và chế tài xử lý của Đạo luật Chứng khoán và Hối đoái Hoa Kỳ năm 1934 (Securities and Exchange Act of 1934, Mục 9, 10(b) và 21A); Đạo luật Thị trường vốn Hàn Quốc (Điều 443); Luật Thị trường vốn Indonesia năm 1995 (Điều 104).
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ: Nghị định số 75-CP ngày 28/11/1996 thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN); Nghị định số 48/1998/NĐ-CP; Nghị định số 22/2000/NĐ-CP; Nghị định số 144/2003/NĐ-CP; Nghị định số 161/2004/NĐ-CP; Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); Nghị định số 36/2007/NĐ-CP; Nghị định số 85/2010/NĐ-CP; Nghị định số 108/2013/NĐ-CP; Nghị định số 145/2016/NĐ-CP; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 211); Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, Điều 58, 62, 63); Luật Chứng khoán năm 2019 (Điều 12, Điều 132); Nghị định số 156/2020/NĐ-CP (Điều 2, 3, 4, 7, 36, 47); Nghị định số 128/2021/NĐ-CP; Thông tư số 95/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính; Thông tư số 38/2017/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Các phương pháp nghiên cứu pháp lý chuyên ngành được kết hợp sử dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích: Giải mã các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm, các điều khoản chế tài và trình tự thủ tục xử phạt trong văn bản pháp luật.
  • Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các mốc phát triển của khung pháp lý và dữ liệu các vụ việc vi phạm thực tế.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh quy định pháp luật Việt Nam với chuẩn mực một số quốc gia (Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Indonesia); so sánh văn bản luật hiện hành (Luật Chứng khoán năm 2019, Nghị định số 156/2020/NĐ-CP) với các văn bản trước đây (Luật Chứng khoán năm 2006, Nghị định số 108/2013/NĐ-CP); đối chiếu khoảng cách giữa quy định lý thuyết và thực tiễn thi hành.
  • Phương pháp bình luận: Đánh giá tính hợp lý, mâu thuẫn hoặc khoảng trống pháp lý của từng điều khoản điều chỉnh hành vi thao túng.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp số liệu các vụ việc thao túng bị xử lý hành chính và hình sự từ các nguồn công khai chính thức.

Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất từ Cổng thông tin điện tử của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các báo cáo chuyên môn của Vụ Giám sát thị trường chứng khoán, hồ sơ các vụ việc vi phạm thực tế (vụ xử phạt bà Nguyễn Diễm Phương Khanh năm 2007, vụ FLC của Trịnh Văn Quyết năm 2022, vụ Louis Holdings, vụ FTM của Lê Mạnh Thường), tài liệu hội thảo khoa học và dữ liệu giao dịch thị trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về hành vi thao túng thị trường chứng khoán và pháp luật về xử lý hành vi thao túng thị trường chứng khoán

Chương 1 khái quát lịch sử xuất hiện hành vi thao túng thị trường trên thế giới từ thế kỷ XVII tại Sở Giao dịch chứng khoán Amsterdam và thị trường kỳ hạn gạo Dojima (Nhật Bản). Sau cuộc Đại suy thoái năm 1929 tại Hoa Kỳ, nguyên nhân sụp đổ của thị trường được quy kết một phần do thao túng giá, dẫn đến sự ra đời của Đạo luật Chứng khoán và Hối đoái năm 1934 để cấm đoán hành vi này. Tại Việt Nam, sau khi thị trường mở cửa vào tháng 7 năm 2000, vụ xử phạt thao túng đầu tiên được ghi nhận vào năm 2007 đối với bà Nguyễn Diễm Phương Khanh theo Quyết định số 05 của UBCKNN, mức phạt tiền là 30 triệu đồng căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 28 Nghị định số 36/2007/NĐ-CP (khung phạt tối đa cho cá nhân khi đó là 50 triệu đồng).

Về mặt lý luận, tác giả đưa ra định nghĩa: Hành vi thao túng TTCK là việc cố ý sử dụng một hoặc nhiều phương tiện tác động lên giá chứng khoán nhằm trục lợi bất hợp pháp. Hành vi này có 4 đặc điểm: chủ thể là cá nhân hoặc tổ chức (nhà đầu tư có đầy đủ năng lực hành vi dân sự); biểu hiện là hành vi cố ý tác động lên giá thông qua việc dùng nhiều tài khoản hoặc mạng lưới truyền thông; mục đích nhằm trục lợi bất chính thông qua việc nâng giá hoặc ép giá để lừa dối nhà đầu tư nhỏ lẻ; và đây là hành vi bị pháp luật cấm do tính chất nguy hiểm cho xã hội tương tự tội phạm lừa đảo chuyên nghiệp. Nguyên nhân thao túng xuất phát từ lợi nhuận bất chính thu được rất lớn (từ hàng trăm triệu đến hàng nghìn tỷ đồng), trình độ nhận thức của phần đông nhà đầu tư cá nhân còn hạn chế, dễ bị dẫn dắt theo tâm lý đám đông, cùng sự lỏng lẻo trong giám sát của cơ quan chức năng.

Tác giả luận giải tính tất yếu của pháp luật xử lý hành vi thao túng thông qua 3 vai trò: hoàn thiện khung pháp lý để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài; ngăn chặn vi phạm và khôi phục trật tự thị trường; bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của nền kinh tế. Pháp luật về xử lý hành vi thao túng TTCK mang đặc điểm không phải là một ngành luật độc lập mà là chế định tổng hợp thuộc nhiều ngành luật (chứng khoán, hành chính, hình sự), có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ phát sinh giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với chủ thể vi phạm, vận hành theo phương pháp điều chỉnh mệnh lệnh - phục tùng.

Lịch sử khung pháp lý điều chỉnh tại Việt Nam được chia thành 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn hình thành (1996 - trước 2006): Thành lập UBCKNN theo Nghị định số 75-CP năm 1996; Nghị định số 48/1998/NĐ-CP và Nghị định số 22/2000/NĐ-CP sử dụng thuật ngữ "lũng loạn thị trường"; thuật ngữ "thao túng thị trường chứng khoán" lần đầu tiên xuất hiện chính thức tại Nghị định số 144/2003/NĐ-CP và Nghị định số 161/2004/NĐ-CP.
  • Giai đoạn Luật Chứng khoán năm 2006 (2006 - 2019): Đạo luật chuyên ngành đầu tiên ra đời có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, cùng các văn bản hướng dẫn xử phạt như Nghị định số 36/2007/NĐ-CP, Nghị định số 108/2013/NĐ-CP, Nghị định số 145/2016/NĐ-CP và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
  • Giai đoạn từ năm 2019 đến nay: Khung pháp lý hiện hành gồm Luật Chứng khoán năm 2019, Nghị định số 156/2020/NĐ-CP và Nghị định số 128/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung.

Chương này cũng tóm lược các nội dung cơ bản của pháp luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành: chủ thể bị xử phạt (Điều 2 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP); 6 nhóm hành vi thao túng (Khoản 2 Điều 3); chế tài xử phạt chính (phạt tiền), xử phạt bổ sung (đình chỉ hoạt động 1-3 tháng, tước chứng chỉ hành nghề 18-24 tháng) và biện pháp khắc phục hậu quả (buộc nộp lại khoản thu trái pháp luật) theo Điều 36; thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBCKNN và Chủ tịch UBND cấp tỉnh theo Điều 47.

Chương 2: Thực trạng của pháp luật về xử lý hành vi thao túng thị trường chứng khoán

Chương 2 phân tích chuyên sâu thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và chỉ rõ các điểm mới cùng các bất cập tồn tại trên 3 phương diện:

Thứ nhất, về quy định xác định hành vi thao túng: Điểm mới của Khoản 3 Điều 12 Luật Chứng khoán năm 2019 và Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP là đã bổ sung rõ ràng hành vi sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch liên tục mua bán tạo cung cầu giả tạo, hành vi đặt lệnh không làm thay đổi quyền sở hữu thực sự, và hành vi tung tin đồn qua phương tiện thông tin đại chúng để lôi kéo người khác. Tuy nhiên, quy định này bộc lộ 4 điểm hạn chế:

  1. Luật Chứng khoán năm 2019 không có điều khoản định nghĩa khái quát mang tính khái niệm về thao túng TTCK mà chỉ liệt kê hành vi bị cấm, trong khi định nghĩa lại được đưa vào văn bản dưới luật là Điều 3 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP.
  2. Việc diễn giải hành vi hoàn toàn dưới dạng liệt kê (6 nhóm hành vi) đã vô hình trung "đóng khung" căn cứ xử lý, dễ dẫn đến bỏ lọt các thủ đoạn thao túng mới xuất hiện do sự phát triển của công nghệ tài chính.
  3. Bỏ sót dấu hiệu xác định trách nhiệm của người cho mượn tài khoản chứng khoán. Phần lớn các vụ thao túng đều sử dụng hàng chục tài khoản của người thân, quen nhưng pháp luật chưa có chế tài liên đới hoặc coi đây là hành vi đồng phạm hành chính nếu người cho mượn biết rõ mục đích thao túng.
  4. Điểm đ Khoản 2 Điều 3 giới hạn phương tiện đưa tin là "phương tiện thông tin đại chúng" (dẫn chiếu Điều 3 Thông tư số 38/2017/TT-BTTTT chỉ gồm báo chí, phát thanh, truyền hình, trang thông tin điện tử), dẫn đến bỏ sót các kênh truyền thông mạng xã hội phổ biến như hội nhóm kín Facebook, Zalo - nơi các đối tượng thường xuyên hô hào lôi kéo nhà đầu tư.

Thứ hai, về quy định xử phạt vi phạm hành chính: Điểm mới tích cực là mức phạt tiền đã được nâng lên tối đa gấp 10 lần khoản thu trái pháp luật (trường hợp không có khoản thu hoặc mức phạt thấp hơn thì áp dụng mức trần 3 tỷ đồng đối với tổ chức và 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân theo Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP sửa đổi bởi Nghị định số 128/2021/NĐ-CP). Các hình thức phạt bổ sung cũng được lượng hóa rõ ràng về thời hạn. Dẫu vậy, chế tài này vẫn tồn tại 2 bất cập lớn:

  1. Chế tài của Việt Nam còn thấp khi so sánh với pháp luật quốc tế. Luật Hoa Kỳ quy định phạt tiền tới 1 triệu USD hoặc gấp 3 lần lợi nhuận thu được/thua lỗ tránh được, kèm mức án tù lên đến 20 năm. Hàn Quốc áp dụng hình phạt tù từ 5 đến 9 năm trở lên nếu khoản thu lợi từ 5 tỷ KRW. Indonesia quy định phạt tù đến 10 năm và phạt tiền 15 tỷ Rup. Trong khi đó, khung hình phạt theo Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam chỉ tối đa 7 năm tù. Mặt khác, Điều 211 cấu thành tội phạm vật chất (phải thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1 tỷ đồng), khiến ranh giới giữa xử lý hành chính và hình sự rất mong manh; khi không chứng minh được hậu quả vật chất thì chỉ có thể dừng ở xử phạt hành chính.
  2. Việc xác định khoản thu trái pháp luật và số lượng nhà đầu tư bị thiệt hại trên thực tế gặp muôn vàn khó khăn do đối tượng vi phạm giao dịch chéo qua nhiều tài khoản, công cụ giám sát chỉ phụ thuộc sao kê thủ công. Điển hình như vụ án thao túng cổ phiếu FTM (CTCP Đầu tư và Phát triển Đức Quân), ông Lê Mạnh Thường và bà Phạm Thị Phương sử dụng 50 tài khoản giao dịch chéo gây thiệt hại cho 11 công ty chứng khoán ước tính gần 200 tỷ đồng (có công ty mất vốn 80 tỷ đồng), nhưng cơ quan điều tra kết luận hành vi chưa sinh lợi bất hợp pháp nên không thể khởi tố hình sự mà chỉ phạt hành chính mỗi cá nhân 600 triệu đồng.

Thứ ba, về trình tự, thủ tục xử lý: Quy trình xử lý hành chính đối với hành vi thao túng TTCK được tác giả tổng hợp thành 6 bước:

  • Bước 1: Công ty con của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (SGDCK) phát hiện giao dịch bất thường, lập báo cáo phân tích.
  • Bước 2: SGDCK gửi báo cáo giám sát giao dịch có dấu hiệu thao túng cho Vụ Giám sát TTCK (thuộc UBCKNN) trong thời hạn 24 giờ kể từ khi có kết quả phân tích (theo Điều 14 Thông tư số 95/2020/TT-BTC).
  • Bước 3: Vụ Giám sát TTCK kiểm tra đối tượng, lập biên bản vi phạm hành chính và chuyển hồ sơ cho Chủ tịch UBCKNN trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản (theo Khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020).
  • Bước 4: Chủ tịch UBCKNN chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để điều tra (theo Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP).
  • Bước 5: Trường hợp không khởi tố hình sự, cơ quan tố tụng trả lại hồ sơ và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính cho người có thẩm quyền trong thời hạn 03 ngày (theo Khoản 3 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính).
  • Bước 6: UBCKNN ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 30 ngày (tối đa 45 ngày nếu cần xác minh thêm) kể từ ngày nhận lại hồ sơ (theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính).

Bất cập của quy trình nằm ở chỗ các quy định bị phân tán ở nhiều văn bản khác nhau, gây khó khăn cho việc tra cứu áp dụng. Đặc biệt, quy định thời hạn 24 giờ để chuyển biên bản vi phạm và hồ sơ từ Vụ Giám sát lên Chủ tịch UBCKNN (Khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020) là bất khả thi trên thực tế, do việc xác minh các tình tiết, tang vật và tài khoản phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian, dẫn đến nguy cơ hồ sơ bị lập sơ sài để kịp hạn định.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý hành vi thao túng thị trường chứng khoán Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi thao túng thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 3 phản ánh thực tiễn giai đoạn từ cuối năm 2020 đến năm 2022 – giai đoạn sôi động nhất của TTCK Việt Nam khi giá trị giao dịch bình quân và lượng tài khoản mở mới đạt mức kỷ lục. Đa số tài khoản mở mới trong thời kỳ đại dịch COVID-19 thuộc về các nhà đầu tư cá nhân (dân văn phòng, sinh viên, tiểu thương) chưa có nền tảng kiến thức chuyên môn, dễ bị cuốn theo các hội nhóm mạng xã hội của "môi giới online" khoe lãi. Bối cảnh đại dịch cùng xung đột địa chính trị thế giới đã tạo điều kiện cho các đối tượng thao túng trục lợi. Tác giả dẫn chứng trường hợp vụ án thao túng cổ phiếu FLC của Trịnh Văn Quyết bị khởi tố cuối tháng 3 năm 2022: các đối tượng đã mượn 26 chứng minh nhân dân của người thân để mở 450 tài khoản chứng khoán tạo giao dịch ảo, bán chui cổ phiếu ở vùng đỉnh giá, thu lợi bất chính ban đầu theo cơ quan công an xác định là 975 tỷ đồng. Tác giả cũng tự liên hệ trải nghiệm cá nhân khi thua lỗ tới 80% tài khoản khi đầu tư vào cổ phiếu FLC và BII do tin vào các phân tích thiếu kiểm chứng trên mạng xã hội.

Trong giai đoạn 2020 - 2022, có 16 vụ việc thao túng TTCK bị xử lý, gồm 13 vụ việc xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền phạt và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp là 10,8 tỷ đồng; 4 vụ án hình sự gồm 2 vụ đã xét xử với mức án lên đến 17 năm tù và 2 vụ đã khởi tố (vụ FLC và vụ nhóm Louis Holdings thao túng mã TGG và BII).

Thống kê tổng thể các vụ thao túng TTCK đã bị xử phạt hành chính và khởi tố hình sự từ năm 2007 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2023) theo dữ liệu của UBCKNN:

Giai đoạn Xử phạt hành chính Xử lý hình sự Tổng cộng
2007 - 2010 11 vụ 1 vụ 12 vụ
2011 - 2015 11 vụ 1 vụ 12 vụ
2016 - 2019 21 vụ 2 vụ 23 vụ
2020 - nay (2023) 14 vụ 2 vụ 16 vụ
Tổng cộng 57 vụ 6 vụ 63 vụ

Từ số liệu trên, tác giả rút ra 3 nhận xét:

  1. Giai đoạn 2007 - 2010 và 2011 - 2015 có số vụ xử lý tương đương (12 vụ mỗi giai đoạn) do hệ thống giám sát thời kỳ này còn yếu kém và nền tảng giao dịch trực tuyến chưa phát triển.
  2. Giai đoạn 2016 - 2019 ghi nhận số vụ xử lý cao nhất (23 vụ) do sự bùng nổ của giao dịch qua internet và điện thoại thông minh (smartphone) tạo điều kiện cho hành vi thao túng tinh vi hơn, đồng thời năng lực phát hiện của cơ quan giám sát được nâng lên.
  3. Số vụ xử lý hình sự rất thấp so với xử phạt hành chính (6 vụ so với 57 vụ). Đồng thời, số vụ xử lý hành vi thao túng chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng số vi phạm trên TTCK: từ năm 2020 đến tháng 9/2021, UBCKNN đã xử phạt 659 tổ chức và cá nhân vi phạm hành chính, trong khi tổng số vụ xử phạt thao túng từ năm 2007 đến năm 2023 (57 vụ) chỉ chiếm tiệm cận 1% tổng số vụ xử lý trên thị trường.

Về bất cập thực tiễn, tác giả chỉ ra tình trạng "bỏ sót" vi phạm còn diễn ra phổ biến. Nhiều cổ phiếu trên thị trường tạo biểu đồ giá hình "cây thông Noel" hoặc tăng trần, giảm sàn liên tiếp 3 đến 4 phiên – dấu hiệu cho thấy đến 70% có bàn tay đội lái can thiệp – nhưng không bị xử lý. Điển hình là cổ phiếu HQC từng bị điều tra nghi vấn thao túng vào năm 2012 nhưng kết luận cuối cùng là không phát hiện vi phạm, dù biểu đồ kỹ thuật các năm 2014 và 2022 đều xuất hiện các chu kỳ biến động giá bất thường.

Dựa trên thực trạng và bất cập đã phân tích, tác giả nêu các nhóm kiến nghị và giải pháp hoàn thiện:

  • Bổ sung định nghĩa khái quát mang tính quy phạm về hành vi thao túng TTCK trực tiếp vào Luật Chứng khoán nhằm bảo đảm tính pháp lý cao nhất và tránh bỏ sót hành vi mới phát sinh.
  • Quy định trách nhiệm pháp lý rõ ràng đối với hành vi cố ý cho mượn tài khoản chứng khoán dẫn đến việc thao túng giá, xem xét đây là hành vi đồng phạm vi phạm hành chính hoặc hình sự.
  • Mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các phương tiện truyền thông thông tin, đưa hoạt động lôi kéo, kích động giao dịch trên các nền tảng mạng xã hội (Facebook, Zalo) vào diện quản lý và xử lý vi phạm.
  • Nâng mức chế tài xử phạt tiền và sửa đổi Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng lượng hóa cụ thể hơn cấu thành hành vi hoặc giảm bớt sự phụ thuộc vào cấu thành vật chất (chứng minh thiệt hại vật chất) để tạo thuận lợi cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Nâng cao năng lực công nghệ giám sát giao dịch nghi vấn của UBCKNN và SGDCK, giảm bớt thủ tục sao kê thủ công; đồng thời sửa đổi kéo dài thời hạn chuyển biên bản vi phạm hành chính (Khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính) cho phù hợp với đặc thù phức tạp của các vụ việc chứng khoán.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Huyền đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn bộ các mốc phát triển của khung pháp lý điều chỉnh hành vi thao túng TTCK tại Việt Nam từ Nghị định số 75-CP năm 1996 đến Nghị định số 128/2021/NĐ-CP, làm rõ quá trình chuyển đổi từ thuật ngữ "lũng loạn thị trường" sang "thao túng thị trường chứng khoán".
  • Xây dựng sơ đồ hóa quy trình 6 bước trong trình tự, thủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi thao túng TTCK dựa trên sự liên kết giữa Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 156/2020/NĐ-CP và Thông tư số 95/2020/TT-BTC.
  • Cung cấp số liệu thống kê đầy đủ về 63 vụ việc thao túng TTCK bị xử lý từ năm 2007 đến năm 2023, chỉ ra tỷ lệ xử lý hành vi thao túng chỉ chiếm tiệm cận 1% tổng số vụ xử phạt vi phạm hành chính trên TTCK Việt Nam (đối chiếu với 659 quyết định xử phạt trong giai đoạn 2020 - tháng 9/2021).
  • Mổ xẻ chi tiết các lỗ hổng lập pháp: sự vắng bóng định nghĩa khái quát trong Luật Chứng khoán năm 2019; tính bất cập của việc giới hạn phương tiện đưa tin tại Thông tư số 38/2017/TT-BTTTT; vướng mắc về thời hạn 24 giờ theo Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020; và rào cản từ cấu thành tội phạm vật chất tại Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đóng góp mới của tác giả so với các nghiên cứu trước đây thể hiện ở việc tập trung chuyên biệt vào chế định "xử lý hành vi thao túng" thay vì chỉ nghiên cứu hành vi nói chung; so sánh chi tiết sự phát triển của các mức phạt tiền qua các nghị định (từ mức phạt 30 - 50 triệu đồng tại Nghị định số 36/2007/NĐ-CP lên mức phạt gấp 10 lần khoản thu trái luật tại Nghị định số 128/2021/NĐ-CP); đối chiếu chế tài của Việt Nam với 3 hệ thống pháp luật quốc tế (Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Indonesia); đồng thời kết hợp giữa tư liệu pháp lý với phân tích dữ liệu kỹ thuật thực tế (vụ việc FLC, FTM, HQC).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận xác định rõ phạm vi nội dung chỉ nghiên cứu trọng tâm vào vấn đề xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi thao túng TTCK, do đó khía cạnh tố tụng hình sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng đối với các nhà đầu tư bị phương hại chưa được phân tích sâu sắc. Bên cạnh đó, tác giả tự nhìn nhận vốn kinh nghiệm thực tế trên thị trường tài chính còn giới hạn, dữ liệu điều tra giao dịch nội gián và thao túng giá của các cơ quan có thẩm quyền chưa được công khai toàn bộ chi tiết kỹ thuật, dẫn đến việc đánh giá chứng cứ sai phạm ở một số mã cổ phiếu nghi vấn (như HQC) chủ yếu dừng lại ở góc độ quan sát biểu đồ giá kỹ thuật.

Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài được mở ra theo các định hướng:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế bồi thường thiệt hại dân sự cho nhà đầu tư cá nhân là nạn nhân của các vụ án thao túng chứng khoán nhằm hiện thực hóa mục tiêu khôi phục quan hệ tài sản trên thị trường.
  • Đi sâu nghiên cứu hoàn thiện các dấu hiệu định tội danh tại Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 2015, giải quyết triệt để ranh giới xử lý giữa biện pháp hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Nghiên cứu cơ chế ứng dụng công nghệ giám sát dữ liệu giao dịch lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo để phát hiện sớm các giao dịch bất thường qua các mạng lưới tài khoản phức tạp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Luật kinh tế, Luật học, Tài chính - Ngân hàng và Thị trường chứng khoán khi nghiên cứu về pháp luật quản lý thị trường tài chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh tế.
  • Các nhà nghiên cứu và người thực hiện khóa luận, luận văn cùng chuyên đề về hoàn thiện chế tài thị trường vốn.
  • Chuyên viên pháp chế, kiểm soát tuân thủ tại các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường.

Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận gồm: phần hệ thống hóa 6 bước quy trình xử lý vi phạm hành chính; bảng tổng hợp đối chiếu số liệu các vụ việc xử phạt từ năm 2007 đến năm 2023; bảng so sánh chế tài xử lý thao túng giữa Việt Nam với Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Indonesia; và các phân tích thực tế về thủ đoạn tạo cung cầu giả thông qua hàng chục tài khoản cá nhân tại các vụ án FLC và FTM.

Câu hỏi thường gặp

1. Vụ việc thao túng thị trường chứng khoán đầu tiên bị xử lý tại Việt Nam diễn ra vào thời gian nào và áp dụng mức xử phạt ra sao?
Vụ việc đầu tiên được UBCKNN xử phạt theo Quyết định số 05 ban hành năm 2007 đối với bà Nguyễn Diễm Phương Khanh. Mức phạt tiền áp dụng là 30 triệu đồng căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 28 Nghị định số 36/2007/NĐ-CP về hành vi thông đồng trong giao dịch chứng khoán nhằm tạo cung cầu giả tạo (đây là mức thấp nhất trong khung phạt 30 - 50 triệu đồng đối với cá nhân thời điểm đó).

2. Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi thao túng TTCK theo pháp luật hiện hành là bao nhiêu?
Theo Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định số 128/2021/NĐ-CP) và Điều 132 Luật Chứng khoán năm 2019, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi thao túng TTCK là 10 lần khoản thu trái pháp luật có được từ hành vi vi phạm. Trường hợp không có khoản thu trái pháp luật hoặc mức phạt tính theo khoản thu trái pháp luật thấp hơn mức phạt tối đa thì áp dụng mức phạt 3 tỷ đồng đối với tổ chức và 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân.

3. Tại sao vụ việc thao túng giá cổ phiếu FTM sử dụng đến 50 tài khoản gây thiệt hại ước tính gần 200 tỷ đồng cho các công ty chứng khoán nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Trong vụ việc thao túng cổ phiếu FTM của ông Lê Mạnh Thường và bà Phạm Thị Phương, cơ quan chức năng xác định đối tượng dùng 50 tài khoản tạo cung cầu giả gây thiệt hại cho 11 công ty chứng khoán gần 200 tỷ đồng. Tuy nhiên, do Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tội thao túng TTCK có cấu thành tội phạm vật chất (đòi hỏi chứng minh có khoản thu lời bất chính từ 500 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1 tỷ đồng trở lên), quá trình điều tra kết luận hành vi chưa sinh lợi bất hợp pháp nên không đủ căn cứ khởi tố hình sự mà chỉ xử phạt vi phạm hành chính mỗi cá nhân 600 triệu đồng.

4. Điểm nghẽn lớn nhất trong quy định về trình tự, thủ tục chuyển giao hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính thao túng TTCK là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở Khoản 5 Điều 58 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020, quy định Vụ Giám sát TTCK phải hoàn tất hồ sơ vi phạm và chuyển cho Chủ tịch UBCKNN trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản vi phạm hành chính. Thời hạn này quá ngắn so với tính chất phức tạp của các vụ án thao túng vốn đòi hỏi nhiều thời gian xác minh danh tính, tang vật, dòng tiền và giá trị vi phạm, dẫn đến nguy cơ hồ sơ bị lập sơ sài.

5. Tổng số vụ việc thao túng thị trường chứng khoán đã bị xử lý tại Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2023 là bao nhiêu vụ?
Từ năm 2007 đến thời điểm nghiên cứu năm 2023, có tổng cộng 63 vụ việc vi phạm thao túng TTCK đã và đang được xử lý, bao gồm 57 vụ việc bị xử phạt vi phạm hành chính và 6 vụ việc bị xử lý hình sự (trong đó giai đoạn 2016 - 2019 có số vụ xử lý nhiều nhất với 23 vụ).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Huyền đã phân tích một cách có hệ thống khung pháp lý và thực tiễn xử lý hành vi thao túng thị trường chứng khoán tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2023. Tác phẩm đã chỉ rõ các vướng mắc lập pháp then chốt như sự thiếu vắng định nghĩa khái quát trong Luật Chứng khoán năm 2019, chế tài xử phạt còn thấp so với quốc tế, rào cản cấu thành vật chất theo Điều 211 Bộ luật Hình sự và quy định thời hạn chuyển hồ sơ 24 giờ bất khả thi. Các luận điểm phân tích thực chứng cùng hệ thống giải pháp được đề xuất trong công trình là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho công tác lập pháp và hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý về thị trường vốn.