phần mở đầu, bảng chữ viết tắt, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm hai chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về rủi ro và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán. Chƣơng 2: Thực trạng những quy định pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán và hƣớng hoàn thiện. LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái quát về hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 1.
Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 1. Khái niệm hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán TTCK là chiếc cầu nối vô hình nối liền giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế 2. Một trong những nguyên tắc căn bản cho hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung gian, theo nguyên tắc này các giao dịch trên TTCK phải đƣợc thực hiện thông qua tổ chức trung gian là CTCK. Với vai trò to lớn của mình, tổ chức và hoạt động của CTCK phải đƣợc đặt trong hành lang pháp lý chặt chẽ.
Đối với các quốc gia có TTCK phát triển thậm chí còn ban hành đạo luật riêng để quy định về tổ chức và hoạt động của CTCK nhƣ Mỹ, Nhật, Thái lan3,…Quy định về CTCK tại Việt Nam đƣợc thể hiện chủ yếu trong Luật Chứng khoán 2006 (đƣợc sửa đổi, bổ sung 2010), Thông tƣ 210/2012/TT-BTC của Bộ Tài Chính hƣớng dẫn về thành lập và hoạt động công ty chứng khoán. Trƣớc khi làm rõ khái niệm kinh doanh của CTCK cần có khái niệm chung nhất về kinh doanh. Theo quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 ―Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lời‖. Theo đó, mỗi hoạt động kinh doanh sẽ gắn với những hàng hóa và dịch vụ riêng.
CTCK không tiến hành hoạt động sản xuất, buôn bán hàng hóa thông thƣờng để kiếm lời nhƣ chủ thể khác mà CTCK là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán, tiến hành kinh doanh với hàng hóa đặc biệt – chứng khoán4 cùng dịch vụ gắn với chứng khoán nhằm đạt mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Khái niệm hoạt động kinh doanh chứng khoán theo quy định của Luật chứng khoán Việt Nam đƣợc hiểu nhƣ sau ―Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán, lƣu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tƣ chứng khoán, quản lý danh mục đầu tƣ chứng khoán‖5. Theo đó, định nghĩa này đƣợc hiểu là định nghĩa dùng chung cho hoạt động kinh doanh của các chủ thể là tổ chức kinh doanh chứng khoán bao gồm cả CTCK, công ty quản lý quỹ6. Pháp luật không đƣa 2 PGS.
TS Lê Hoàng Nga (2015), Thị trƣờng chứng khoán, Nhà xuất bản Tài chính, tr 53. Vũ Văn Cƣơng (2006), ―Một số vấn đề pháp lý về công ty chứng khoán theo luật chứng khoán Việt Nam năm 2006‖, Tạp chí luật học, số 8, tr 10. 4 Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán 2006, sửa đổi, bổ sung 2010, chứng khoán đƣợc hiểu là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. 5 Khoản 19, Điều 6, Luật chứng khoán 2006, sửa đổi, bổ sung 2010.
6 Khoản 22 Nghị Định 60/2015/NĐ- CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 58/2012. 4 ra định nghĩa cụ thể hoạt động kinh doanh của riêng CTCK nhƣng cũng có thể khái quát khái niệm này qua định nghĩa CTCK. Theo Thông tƣ 210/2012 ―Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán‖7. Nhƣ vậy, khái niệm hoạt động kinh doanh của CTCK có thể đƣợc hiểu nhƣ sau ―Hoạt động kinh doanh của CTCK là việc CTCK tiến hành liên tục một, một số hoặc tất cả các nghiệp vụ bao gồm: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán trên cơ sở luật định nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận‖.
Khái niệm này bao quát những hoạt động chủ chốt trong tổng thể hoạt động kinh doanh của CTCK. Theo pháp luật Việt Nam hoạt động kinh doanh của CTCK bao gồm nhiều nghiệp vụ khác nhau, trong khi đó pháp luật chứng khoán một số nƣớc nhƣ Thái Lan, Indonesia,… quy định hoạt động kinh doanh chứng khoán bao gồm các hành vi môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý quỹ danh mục đầu tƣ chứng khoán. Luật chứng khoán Trung Quốc không đƣa ra định nghĩa chính thức nào về hoạt động kinh doanh chứng khoán8 mà chỉ rõ nghiệp vụ nào công ty chứng khoán đƣợc thực hiện, nghiệp vụ nào không đƣợc thực hiện nhằm tránh xung đột lợi ích giữa các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Thậm chí chỉ cho phép CTCK thực hiện một số nghiệp vụ nhất định mà không đƣợc thực hiện toàn bộ các hoạt động9, chẳng hạn Điều 130 Luật Chứng khoán Trung Quốc quy định ―Công ty môi giới chứng khoán chỉ đƣợc phép chuyên thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán‖10.
Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán Mặc dù khái niệm hoạt động kinh doanh của CTCK có sự quy định khác nhau trong pháp luật các nƣớc nhƣng nhìn chung hoạt động này đều có các đặc điểm nhƣ sau: Thứ nhất, đối tƣợng kinh doanh là chứng khoán và các dịch vụ gắn liền với chứng khoán. Chứng khoán là hàng hóa đặc biệt, bản thân nó có các đặc điểm là tính sinh lời, tính rủi ro và có tính thanh khoản cao. Chứng khoán là hàng hóa trừu tƣợng mà ngƣời mua, ngƣời bán không thể trực tiếp kiểm tra nhƣ hàng hóa thông thƣờng mà phải dựa trên những thông tin có liên quan. Chứng khoán giao dịch trên thị thƣờng có số lƣợng lớn, danh mục rất đa dạng, chúng biến động liên tục và phƣơng thức giao dịch cũng đƣợc thực hiện theo phƣơng thức đặc biệt – phƣơng thức khớp lệnh gồm khớp lệnh định 7 Khoản 1 Điều 2 Thông tƣ 210/2012/TT-BTC.
8 ―Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán – bài tập học kỳ luật chứng khóan‖, http://www.com/2014/06/rui-ro-trong-kinh-doanh-chung-khoan-bai.html, truy cập ngày 6/6/2016. Vũ Văn Cƣơng, tlđd (3), tr12.vn/doc/ebook-phap-luat-ve-cong-ty-chung-khoan-o-viet-nam-pgs-ts-le-thi-thuy-thuy- chu-bien--1733152.html, truy cập ngày 1/6/2016. 5 kỳ11 và khớp lệnh liên tục12. Mặc dù chứng khoán là đối tƣợng kinh doanh có thể đem lại lợi nhuận lớn cho các chủ thể tham gia nhƣng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, do đó xuất phát từ đối tƣợng kinh doanh này mà hoạt động của CTCK rất đa dạng, phức tạp khác với các loại hình kinh doanh thông thƣờng.
Thứ hai, chủ thể kinh doanh chứng khoán nhƣ đã đề cập bao gồm nhiều chủ thể khác nhau nhƣng trong phạm vi khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu CTCK. Có thể nói CTCK là một trong những chủ thể kinh doanh chứng khoán chủ yếu, phổ biến và quan trọng nhất trên TTCK, góp phần vào sự phát triển sôi động của TTCK. Trong các lĩnh vực kinh doanh thông thƣờng khác, chủ thể kinh doanh có nhiều sự lựa chọn về hình thức tổ chức và hoạt động nhƣ công ty cổ phần (CTCP), công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tƣ nhân. Tuy nhiên, trong lĩnh vực chứng khoán, CTCK theo quy định của pháp luật có sự hạn chế về hình thức tổ chức pháp lý.
Tại khoản 1 Điều 59 Luật chứng khoán 2006 quy định CTCK đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc CTCP theo quy định của Luật doanh nghiệp và đƣợc Ủy Ban chứng khoán Nhà nƣớc (UBCKNN) cấp giấy phép thành lập và hoạt động. Quy định này của pháp luật Việt Nam cũng không có sự khác biệt nhiều với các nƣớc khác. Quy định hạn chế nhƣ vậy do tính đặc thù trong kinh doanh chứng khoán mà từ đó pháp luật đã dự liệu để đƣa ra những đòi hỏi khắt khe trong quy định tổ chức, báo cáo, công bố thông tin, nguyên tắc kế toán, kiểm toán, quản trị điều hành,. Với loại hình CTCP và công ty trách nhiệm hữu hạn có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, quy chế pháp lý rõ ràng sẽ đảm bảo hơn trong những vấn đề này để hạn chế rủi ro cho thị trƣờng chứng khoán.
Thứ ba, hoạt động kinh doanh chứng khoán là hoạt động kinh doanh có điều kiện. Đây là điểm chung nhất trong pháp luật các nƣớc quy định để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia trên thị trƣờng cũng nhƣ đảm bảo cho TTCK vận hành một cách an toàn và hiệu quả. Hoạt động của CTCK là hoạt động mang tính chuyên nghiệp cao và để đƣợc kinh doanh CTCK thông thƣờng phải thỏa mãn điều kiện về vốn, cơ sở vật chất và con ngƣời. Mức vốn quy định căn cứ vào mức độ rủi ro tƣơng ứng của từng nghiệp vụ, rủi ro cao sẽ đòi hỏi CTCK có mức vốn cao và ngƣợc lại.
Theo quy định pháp luật Việt Nam, ―vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán là: môi giới chứng khoán 25 tỷ đồng Việt Nam, tự doanh chứng khoán là 100 tỷ đồng Việt Nam, bảo lãnh phát hành chứng khoán là 165 tỷ đồng Việt Nam, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán là 10 tỷ đồng Việt Nam‖13. Nhƣ vậy, CTCK tham gia càng 11 Khớp lệnh định kỳ là phƣơng thức khớp lệnh đƣợc thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và bán tại một thời điểm nhất định. 12 Khớp lệnh liên tục là phƣơng thức giao dịch đƣợc thực hiện trên cơ sở so với khớp các lệnh mua và bán ngay khi lệnh đƣợc nhập vào hệ thống giao dịch. 13 Điều 71 Nghị định 58/2012.
6 nhiều hoạt động đòi hỏi mức vốn càng lớn và tùy vào mức độ phát triển của thị trƣờng mà quy định về mức vốn của các quốc gia có sự khác nhau14. Điều kiện tiếp theo để đƣợc thực hiện kinh doanh chứng khoán là điều kiện về nhân sự, đƣợc đặt ra để đảm bảo ngƣời điều hành cũng nhƣ nhân viên phải có lý lịch tốt, trình độ chuyên môn và tuân thủ đạo đức nghề nghiệp. Điều kiện về cơ sở vật chất cũng đƣợc pháp luật đặt ra để đảm bảo các hoạt động của CTCK đƣợc diễn ra thuận tiện và an toàn, đó là điều kiện về trụ sở, trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh. Thứ tƣ, hoạt động kinh doanh chứng khoán chứa đựng nhiều rủi ro.