CHƯƠNG 1: NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KÝ QUỸ TẠI CTCK VÀ SƠ LƯỢC VỀ NHỮNG RỦI RO GẶP PHẢI 1. Hoạt động cho vay ký quỹ 1. Lịch sử hình thành TTCK và GDKQ tại Việt Nam Từ những năm đầu thập niên 90, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước kết hợp xây dựng đề án thành lập, nghiên cứu phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Dựa trên đề án của các Bộ và các Ngành, ngày 28/11/1996 Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 75/1998/NĐ-CP về việc thành lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước với vai trò là cơ quan trực thuộc Chính phủ.
UBCKNN có chức năng quản lý và tổ chức, giữ nhiệm vụ chuẩn bị các yêu cầu cần thiết cho sự hình thành của thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức ra đời vào ngày 11/07/1998 theo Nghị định số 48/CP về các quy định đới với Chứng khoán và Thị trường chứng khoán. Cùng ngày 11/07/1998, Chính phủ công bố Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg lập nên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Thị trường chứng khoán Việt Nam có phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 27/07/2000.
Tính đến thời điểm hiện tại, thị trường chứng khoán Việt nam đã tồn tại được hơn 21 năm, số lượng giao dịch chủ yếu trên thị trường vẫn là giao dịch theo hình thức mua bán chứng khoán với 100% giá trị. Ngày 01/06/2011, Thông tư 74/2011/TT-BTC hướng dẫn về giao dịch chứng khoán do Bộ tài chính ban hành đã chính thức cho phép một nghiệp vụ mới là giao dịch mua ký quỹ đi vào hoạt động. Ngày 30/08/2011, căn cứ vào các quyết định, nghị định, thông tư có sẵn về giao dịch chứng khoán và chỉ tiêu an toàn tài chính kết hợp với đề nghị của Vụ trưởng Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán, Quyết định số 637/QĐ-UBCK được ban hành, thể hiện chi tiết cụ thể hơn những quy tắc cần tuân thủ khi GDKQ chứng khoán được ban hành. Theo điều 11 của thông tư 72/2011/TT-BTC về GDKQ chứng khoán, Công ty chứng khoán sau khi khai báo đầy đủ tài liệu hợp lệ với UBCKNN sẽ được phép thực hiện GDKQ.
Đặc trưng của giao dịch cho vay ký quỹ Tính chất đòn bẩy Theo Harvey Conrad Friedentag (2009), một trong những ưu điểm của GDKQ đó là cung cấp công cụ đòn bẩy giúp các nhà đầu tư có cơ hội đạt lợi nhuận cao hơn nếu có chiến lược đầu tư đúng đắn và dự đoán đúng diễn biến giá chứng khoán. Về bản chất, GDKQ cho phép nhà đầu tư giao dịch chứng khoán trên thị trường với số lượng lớn hơn nhiều lần so với số tiền thực tế mà nhà đầu tư sở hữu. Tuy nhiên, công cụ đòn bẩy cũng có thể khiến nhà đầu tư thua lỗ nhiều hơn so với đầu tư thông thường nếu không phán đoán đúng xu hướng giá chứng khoán giao dịch. Nhờ vào tính chất đòn bẩy, sử dụng GDKQ là cơ hội giúp những nhà đầu tư có vốn vừa và nhỏ kiếm lợi nhuận và làm giàu nhanh hơn.
Thời gian đáo hạn Theo tiêu chuẩn UBCK đề ra, thời gian đáo hạn của một GDKQ là 90 ngày. Sau khi giao dịch kết thúc, khách hàng có thể lựa chọn gia hạn nếu muốn tiếp tục sử dụng giao dịch. Ưu điểm lãi suất Theo Đào Minh Nguyệt (2018), dịch vụ GDKQ do các CTCK cung cấp có lãi suất thấp hơn so với lãi suất cho vay thông thường. Vai trò của giao dịch cho vay ký quỹ Kết hợp (Thực trạng và giải pháp giao dịch mua ký quỹ trên thị trường chứng khoán Việt Nam, 2014) và nghiên cứu của Đào Minh Nguyệt (2018), bài viết đề cập đến 4 ý nghĩa chính của GDKQ đối với nền kinh tế Việt Nam.
Đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam Với những cơ hội và thách thức đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam trong tiến trình hội nhập thì việc phát triển hoạt động GDKQ chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng, cụ thể: Tạo thêm nhiều sản phẩm, từ đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, tạo thêm thu nhập cho ngân hàng. 5 Nghiệp vụ cho vay ký quỹ là nghiệp vụ kinh doanh hiện đại, thường chỉ phát triển ở những nước có thị trường tài chính phát triển. Vì vậy phát triển sản phẩm ký quỹ là một điều tất yếu trên con đường hội nhập quốc tế của TTCK Việt Nam và cả hệ thống các ngân hàng thương mại. Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam Một trong những tác động dễ thấy nhất của cho vay ký quỹ đối với thị trường chứng khoán là sẽ đưa giá chứng khoán dần trở về với giá trị thực của nó.
Điều này có thể lý giải bằng việc nhà đầu tư chỉ kinh doanh bằng tài khoản ký quỹ khi nào họ nhận thấy giá chứng khoán đó đang thấp hơn giá trị thực của nó, và cho rằng giá sẽ tăng trong tương lai. Bên cạnh đó, GDKQ giúp tăng tính thanh khoản cho thị trường, khiến cho thị trường trở nên năng động hơn. Phát triển của sản phẩm cho vay ký quỹ làm tăng tính chuyên nghiệp trong giao dịch, đồng thời giảm dần những tác động xấu đối với thị trường chứng khoán do sự ít hiểu biết cũng như yếu tố “tâm lý đám đông” của nhà đầu tư ít kinh nghiệm Đối với công ty chứng khoán Đối với công ty chứng khoán, hoạt động cho vay ký quỹ không còn gì là xa lạ, thậm chí còn là một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của CTCK. Kể từ khi được áp dụng tại Việt Nam vào năm 2011, cho vay ký quỹ không những đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng thanh khoản của thị trường, tối đa hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư mà còn giúp CTCK thu được lợi nhuận khá lớn từ hoạt động này thông qua việc thu lãi vay, hoa hồng,…Dự báo trong tương lai khi TTCK Việt Nam bước vào một giai đoạn tăng nóng mới, nguồn tiền ký quỹ sẽ một lần nữa đổ vào thị trường và biến giao dịch ký quỹ trở thành một công cụ phổ biến hơn.
Đối với nhà đầu tư Không phải ngẫu nhiên mà hoạt động này lại được phát triển lâu đời ở các nước có thị trường tài chính và thị trường chứng khoán phát triển. Sự hấp dẫn của đòn bẩy tài chính thật sự là một yếu tố hấp dẫn, thu hút rất nhiều nhà đầu tư, bởi: Đòn bẩy tài chính cho phép giao dịch mua bán một số lượng chứng khoán lớn hơn nhiều lần chỉ với một khoản đặt cọc ban đầu, so với hình thức giao dịch 6 hoàn toàn bằng tiền mặt. Khi nhà đầu tư phán đoán đúng tình hình thị trường thì lợi nhuận từ GDKQ sẽ được khuyếch đại lên nhiều lần. GDKQ thường có mức lãi suất thấp hơn so với lãi suất cho vay thông thường đồng thời thủ tục cho vay đơn giản, không phải chứng minh điều kiện tài chính cũng như tài sản đảm bảo phức tạp.
Một số quy định liên quan đến GDKQ Quy định về nghĩa vụ của công ty chứng khoán Nghĩa vụ của công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ cho vay ký quỹ được Bộ Tài chính quy định trong quyết định số 637/QĐ-UBCK tại điều 4,8,12 và 20 như sau: a. Nghĩa vụ quản lý Công ty chứng khoán có nghĩa vụ cam kết bảo mật thông tin tài khoản GDKQ của khách hàng. Thông tin chỉ được phép cung cấp khi có sự chấp thuận từ phía khách hàng hoặc theo yêu cầu của cơ quan chức năng nhà nước có thẩm quyền. Để bắt đầu thực hiện GDKQ, nhà đầu tư cần phải có tài khoản GDKQ được mở tại công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch.
Nhà đầu tư chỉ có thể mở duy nhất một tài khoản GDKQ tại mỗi công ty chứng khoán. Để mở tài khoản GDKQ, khách hàng phải ký quỹ một khoản tiền tối thiếu 10 triệu đồng. Mức cụ thể do công ty chứng khoán quy định. Tài khoản GDKQ và các tài khoản giao dịch khác (gồm tiền và chứng khoán) của khách hàng cần được công ty chứng khoán quản lý riêng biệt.
Công ty chứng khoán không được phép sử dụng chứng khoán trong tài khoản ký quỹ của nhà đầu tư để làm tài sản thế chấp cho bất kỳ giao dịch nào khác ngoài GDKQ giữa khách hàng và công ty chứng khoán. Trừ trường hợp buộc bán chứng khoán nhằm thu hồi nợ vay, công ty chứng khoán không được thực hiện giao dịch liên quan đến chứng khoán thế chấp nếu không có yêu cầu của khách hàng. Tài sản thế chấp trong tài khoản GDKQ có thể bao gồm: cổ phiếu thường, cổ tức bằng tiền mặt, cổ tức bằng cổ phiếu, các khoản tiền được trả cho chứng khoán có trong tài khoản GDKQ và số tiền còn lại sau khi bán chứng khoán thế chấp để thực hiện nghĩa vụ đối với công ty chứng khoán. Khách hàng chỉ được rút tiền trên tài khoản GDKQ sau khi đã thanh toán hết các 7 khoản nợ với công ty chứng khoán hoặc khi trên tài khoản GDKQ có tiền và sau khi rút vẫn phải đảm bảo tỷ lệ ký quỹ ban đầu.
Tỷ lệ ký quỹ ban đầu là tỷ lệ giữa tài sản thực có (trước khi thực hiện giao dịch) so với giá trị hợp đồng giao dịch (dự kiến thực hiện) tính theo giá trị thị trường. Cuối mỗi ngày giao dịch, công ty chứng khoán cần thực hiện nghiệp vụ kế toán, tổng kết từng tài khoản GDKQ về danh mục tài sản ký quỹ, thế chấp, cầm cố trên tài khoản, giá thị trường, tỷ lệ ký quỹ kèm theo các lệnh gọi ký quỹ bổ sung (call margin), phiếu lệnh GDKQ (force sell). Nghĩa vụ lưu trữ Công ty chứng khoán có nghĩa vụ theo dõi, lưu giữ các thông tin và số liệu giao dịch mua bán trên tài khoản ký quỹ của khách hàng với thời gian tối thiểu là 5 năm. Công ty chứng khoán có nghĩa vụ công khai thông tin về các điều kiện cung cấp dịch vụ GDKQ bao gồm danh sách chứng khoán được thực hiện GDKQ, yêu cầu về tỷ lệ ký quỹ, lãi suất vay, thời hạn vay, phương thức thực hiện lệnh gọi ký quỹ bổ sung.
Các thông tin này phải được niêm yết tại trụ sở chính, các địa điểm kinh doanh hợp pháp khác của công ty chứng khoán, trang thông tin điện tử của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán không được cho khách hàng vay tiền để thực hiện GDKQ trong những trường hợp sau: Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư do chính công ty chứng khoán bảo lãnh phát hành trong vòng 6 tháng tính từ khi hoàn tất đợt phát hành.