CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO DANH MỤC CỔ PHIẾU, MÔ HÌNH VaR, CVaR TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO DANH MỤC CỔ PHIẾU 1. Cơ sở lý thuyết về rủi ro danh mục cổ phiếu 1. Cổ phiếu niêm yết a. Khái niệm Niêm yết chứng khoán: Theo điều 4 khoản 24 Luật Chứng khoán năm 2019, niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện niêm yết vào giao dịch tại sàn giao dịch chứng khoán Chứng khoán niêm yết là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng dạng đóng, cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán và các loại chứng khoán khác được chấp nhận niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán.
Tổ chức niêm yết: Theo điều 4 khoản 48 Luật Chứng khoán năm 2019, tổ chức niêm yết là tổ chức phát hành có chứng khoán niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán b. Điều kiện niêm yết chứng khoán chung trên TTCK Theo đó, Điều 109 Nghị định 155/2020/NĐ-CP quy định điều kiện niêm yết cổ phiếu từ ngày 01/01/2021 như sau: Một là, là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 30 tỷ đồng trở lên căn cứ trên báo cáo tài chính gần nhất được kiểm toán, đồng thời giá trị vốn hóa đạt tối thiểu 30 tỷ đồng tính theo bình quân gia quyền giá thanh toán cổ phiếu trong đợt chào bán ra công chúng gần nhất theo quy định của Nghị định này hoặc giá tham chiếu cổ phiếu giao dịch trên hệ thống giao dịch Upcom trung bình 30 phiên gần nhất trước thời điểm nộp hồ sơ đăng ký niêm yết hoặc bình quân gia quyền giá thanh toán trong đợt bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp cổ phần hóa; Hai là, đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua việc niêm yết; đã giao dịch trên hệ thống giao dịch Upcom tối thiểu 02 năm, trừ trường hợp tổ chức đăng ký niêm yết đã chào bán cổ phiếu ra công chúng, doanh nghiệp cổ phần hóa; Ba là, tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm liền trước năm đăng ký niêm yết tối thiểu là 5% và hoạt động kinh doanh của 02 năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi; không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 01 năm tính đến thời điểm đăng ký niêm yết; không có lỗ lũy kế căn cứ trên báo cáo tài chính năm gần nhất được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên được soát xét trong trường hợp đăng ký niêm yết sau ngày kết thúc của kỳ lập báo cáo tài chính bán niên; Bốn là, trừ trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa, tổ chức đăng ký niêm yết phải có tối thiểu 15% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ; trường hợp vốn điều lệ của tổ chức đăng ký niêm yết từ 1.000 tỷ đồng trở lên, tỷ lệ tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết; Năm là, cổ đông là cá nhân, tổ chức có đại diện sở hữu là Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Trưởng Ban kiểm soát và thành viên Ban Kiểm soát (Kiểm soát viên), Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng, Giám đốc tài chính và các chức danh quản lý tương đương do Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc Hội đồng quản trị bổ nhiệm và cổ đông lớn là người có liên quan của các đối tượng trên phải cam kết tiếp tục nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 06 tháng kể từ ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 06 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ; Sáu là, công ty, người đại diện theo pháp luật của công ty không bị xử lý vi phạm trong thời hạn 02 năm tính đến thời điểm đăng ký niêm yết do thực hiện hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định tại Điều 12 Luật Chứng khoán; Bảy là, có công ty chứng khoán tư vấn hồ sơ đăng ký niêm yết, trừ trường hợp tổ chức đăng ký niêm yết là công ty chứng khoán. Việc phân loại, sắp xếp cổ phiếu niêm yết căn cứ vào các tiêu chí quy định tại quy chế niêm yết của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam, bao gồm: vốn điều lệ, giá trị vốn hóa, thời gian hoạt động, tình hình tài chính, cơ cấu cổ đông không phải là cổ đông lớn, quản trị công ty. Danh mục đầu tư cổ phiếu Theo giáo trình Đầu Tư Tài Chính của TS.Phan Thị Bích Nguyệt “ Danh mục đầu tư ( Investment Portfolio) là sự kết hợp nắm giữ các loại chứng khoán, hàng hóa, bất động sản, các công cụ tương đương tiền mặt hay các tài sản khác bởi một cá nhân hay một nhà đầu tư thuộc tổ chức.
Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bằng cách đa dạng hoá đầu tư”. Rủi ro danh mục 1. Khái niệm Rủi ro là một khái niệm phổ biến, do đó ta có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro từ những tác giả khác nhau và từ những trường phái khác nhau. Những định nghĩa về rủi ro rất phong phú và đa dạng, có thể kể đến như: Theo định nghĩa của Holton (2004), rủi ro là “sự không chắc chắn về các biến cố có thể xảy ra”.
Tuy nhiên, sự không chắc chắn này chúng ta có thể đo lường thông qua các hàm phân phối xác suất. Alan Willett cho rằng: “ Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện của một biến cố không mong đợi”. Trong một nghiên cứu của John Haynes và được Irving Pfeffer nhắc trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế, rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất. Trong lĩnh vực tài chính, rủi ro được hiểu là sự không chắc chắn về lợi tức mà nhà đầu tư kỳ vọng nhận được từ việc đầu tư các tài sản tài chính, là khả năng xảy ra sự khác biệt giữa kết quả thực tế và kết quả kỳ vọng theo dự kiến ban đầu.
Hay nói một cách khác rủi ro là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng, lợi nhuận thực tế này có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với lợi nhuận kỳ vọng. Các nhà đầu tư chỉ chấp nhận đầu tư vào các cổ phiếu có độ rủi ro cao hơn khi mà lợi nhuận kỳ vọng từ cổ phiếu đó cao. Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu rủi ro danh mục đầu tư là là sự khác biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng của một danh mục đầu tư. Phân loại Khi đầu tư vào các tài sản tài chính, chúng ta có thể gặp hai loại rủi ro là rủi ro hệ thống (rủi ro thị trường) và rủi ro phi hệ thống.
Rủi ro hệ thống (systematic risk): là loại rủi ro tác động lên toàn bộ hoặc tất cả các tài sản trong danh mục nói riêng và tất cả các tài sản cấu thành nên thị trường nói chung, còn gọi là rủi ro thị trường. Các nhân tố có thể gây ra rủi ro hệ thống thường là các điều kiện chung của nền kinh tế như: GDP giảm, lãi vay, lạm phát, tỷ giá hối đoái, chính trị bất ổn, thiên tai… Rủi ro phi hệ thống (unsystematic risk): là những rủi ro đặc trưng riêng của một vài doanh nghiệp. Rủi ro này chỉ liên quan đến một hoặc một nhóm các doanh nghiệp cụ thể do đó ở một số tài liệu nó còn được gọi bằng tên gọi khác là rủi ro đơn nhất hay rủi ro cho một tài sản cụ thể. Nguyên nhân gây ra rủi ro phi hệ thống có thể do trình độ quản lý, năng lực và quyết định quản trị của doanh nghiệp yếu kém, những tác động của cạnh tranh nước ngoài hay nguồn cung ứng nguyên vật liệu… Rủi ro phi hệ thống có thể được loại bỏ hoàn toàn thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư còn rủi ro hệ thống không thể loại trừ thông qua việc đa dạng hóa.
Bởi vì, rủi ro có hệ thống tác động đến tất cả các loại tài sản khác nhau. Do đó, dù có bao nhiêu tài sản trong danh mục hay thay đổi tỷ trọng các tài sản trong danh mục đầu tư thì rủi ro có hệ thống cũng không thể bị loại bỏ. Trên thực tế, rủi ro hệ thống còn được gọi là rủi ro không thể đa dạng hóa. Do đó, nhà đầu tư cần tập trung tính toán rủi ro thị trường khi định lượng rủi ro của danh mục cổ phiếu Rủi ro tổng thể = Rủi ro hệ thống + rủi ro phi hệ thống Ngoài ra, ta cũng có thể bắt gặp hai loại rủi ro khác đó là rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán : Rủi ro thuần túy: là những rủi ro dẫn đến tình huống tổn thất hay không tổn thất, trường hợp tốt nhất là tổn thất không xảy ra Rủi ro suy đoán: là những rủi ro dẫn đến tình huống tổn thất hoặc sinh lợi.
Phần sinh lợi gọi là phần thưởng cho rủi ro. Đo lường rủi ro của danh mục đầu tư Hiện nay, phương pháp đo lường rủi ro được sử dụng phổ biến là phương sai (variance) và độ lệch chuẩn (standard deviation). Trong đầu tư chứng khoán, các phương pháp này dùng để đo lường độ biến động của tỷ suất lợi nhuận thực tế so với tỷ suất kỳ vọng của các nhà đầu tư. Phương sai- Độ lệch chuẩn Đối với một chứng khoán cụ thể, đây là phương pháp ước lượng chênh lệch của những mức tỷ suất sinh lời có thể có so với tỷ suất sinh lời kỳ vọng Phương sai của tỷ suất lợi nhuận: =∑ Trong đó: E(R): Tỷ suất sinh lời kỳ vọng : tỷ suất sinh lời có thể có tại tình huống i : Xác suất nhận được Độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận √∑ Đối với danh mục đầu tư, năm 1952, Harry Markowitz đã phát triển mô hình lựa chọn danh mục đầu tư dựa trên nguyên lý đa dạng hóa.