Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về quản trị công ty chứng khoán. Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản trị công ty chứng khoán và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản trị công ty chứng khoán ở Việt Nam. 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.
Khái quát về mô hình quản trị công ty chứng khoán 1. Khái niệm công ty chứng khoán Trên thị trƣờng chứng khoán có sự tham gia đa dạng của các chủ thể khác nhau, trong đó có T K. Theo Giáo trình Pháp luật về thị trƣờng chứng khoán của ại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: T K là định chế tài chính trung gian trên thị trƣờng chứng khoán, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán [9]. Khái niệm về CTCK tại mỗi quốc gia đƣợc thể hiện khác nhau.
Tại Nhật Bản, theo Luật Chứng khoán năm 2005, T K là CTCP đƣợc phép hoạt động kinh doanh chứng khoán. Theo Luật Chứng khoán Thái Lan, thì CTCK là công ty TNHH, công ty TNHH đại chúng hoặc tổ chức tài chính đƣợc cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán. Luật Chứng khoán của Liên minh hâu Âu (EU) quy định: CTCK là pháp nhân hoặc không phải là pháp nhân thực hiện các dịch vụ của chính mình. Luật Chứng khoán Mỹ năm 1933 cho phép T K đƣợc thành lập dƣới cả 3 hình thức pháp lý: CTCP, công ty TNHH, công ty hợp danh.
Luật Chứng khoán Trung Quốc năm 2005 quy định: CTCK là công ty TNHH hoặc CTCP làm nhiệm vụ kinh doanh chứng khoán. Nhƣ vậy, hình thức pháp lý của các CTCK là rất khác nhau tùy theo quy định của từng quốc gia. Ở Việt Nam, việc định nghĩa T K lần đầu tại Quyết định số 04/1998/Q -UBCK3 ngày 13/10/1998 của UBCKNN, theo đó CTCK là CTCP, công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, đƣợc UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán. Và khoản 1 iều 2 Thông tƣ 210/2012/TT-BTC đƣa ra giải thích CTCK là doanh 8 nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán.
ến khi Luật Chứng khoán năm 2019 ban hành, thì việc đƣa ra giải thích CTCK lại có sự điều chỉnh, theo khoản 1 iều 2 Thông tƣ 121/2020/TT- BTC giải thích CTCK là doanh nghiệp đƣợc UBCKNN cấp phép thực hiện một, một số nghiệp vụ theo quy định tại khoản 1 iều 72, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 iều 86 Luật Chứng khoán năm 2019. Khoản 1 iều 72 Luật Chứng khoán năm 2019 vẫn giữ nguyên 04 nghiệp vụ so với Luật Chứng khoán năm 2006 bao gồm: Môi giới chứng khoán; Tự doanh chứng khoán; Bảo lãnh phát hành chứng khoán; Tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán. Nhƣ vậy, ngoài 04 nghiệp vụ giống nhƣ đã quy định tại Luật Chứng khoán năm 2006 thì quy định pháp luật hiện hành bổ sung thêm iều 86 Luật Chứng khoán năm 2019 (điều này đi đến việc đƣa ra các hoạt động cụ thể hơn đối với từng nghiệp vụ). Ngoài ra, không chỉ dừng lại ở 04 nghiệp vụ trên, quy định mới bổ sung trực tiếp vào khái niệm về thêm trƣờng hợp T K còn đƣợc cung cấp dịch vụ tài chính khác với điều kiện dịch vụ tài chính này phù hợp với quy định của pháp luật sau khi báo cáo UBCKNN bằng văn bản.
Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán tại mỗi quốc gia đƣợc quy định khác nhau, có thể kể đến nhƣ: Theo Luật Chứng khoán ở Thái Lan thì CTCK là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty TNHH đại chúng hoặc tổ chức tài chính; Theo luật chứng khoán Trung Quốc năm 1998 thì T K là công ty TNHH hoặc CTCP; Luật chứng khoán Mỹ năm 1933, Luật chứng khoán Hồng Kông, Malaysia quy định T K đƣợc thành lập dƣới cả ba hình thức pháp lý là CTCP, Công ty TNHH, Công ty hợp danh. Theo Luật chứng khoán ở Việt Nam (Khoản 1 iều 59 Luật Chứng 9 khoán năm 2006, Khoản 2 iều 71 Luật Chứng khoán năm 2019) quy định CTCK chỉ có 02 loại hình pháp lý là CTCP hoặc công ty TNHH. ể hiểu đƣợc lý do tại sao pháp luật Việt Nam chỉ quy định có 02 loại hình nhƣ trên thì cần phải hiểu về các loại hình công ty này: Công ty TNHH Công ty TNHH bao gồm công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên, trong đó thành viên công ty là tổ chức và cá nhân sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty. Phần vốn góp là tổng giá trị tài sản của một thành viên công ty đã góp hoặc cam kết góp vào công ty.
Tỷ lệ phần vốn góp là tỷ lệ giữa phần vốn góp của một thành viên và vốn điều lệ của công ty. Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân; thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp trừ một số trƣờng hợp theo quy định của pháp luật (Khoản 1 iều 46 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Công ty TNHH một thành viên và hai thành viên trở lên đều có tƣ cách pháp nhân và không đƣợc phát hành cổ phần, trừ trƣờng hợp để chuyển đổi thành CTCP nhƣng đƣợc phát hành trái phiếu ( iều 46, 74 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Công ty cổ phần CTCP là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Về tính chịu trách nhiệm của cổ đông đối với các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác của Công ty chỉ trong phạm vi số vốn các cổ 10 đông đã góp vào doanh nghiệp. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân với số lƣợng ít nhất là 03 và không quy định số lƣợng tối đa.
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần trừ một số trƣờng hợp theo quy định của pháp luật. CTCP có tƣ cách pháp nhân, đƣợc quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty. So với loại hình Công ty TNHH, CTCP có nhiều ƣu thế hơn về phƣơng diện huy động vốn, phƣơng thức quản lý và công bố thông tin. CTCP sau khi đáp ứng một số điều kiện hoặc đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng và buộc phải đăng ký với UBCKNN sẽ trở thành CT.
iều 32 Luật Chứng khoán năm 2019 định nghĩa T là T P thuộc một trong hai trƣờng hợp sau đây: (i) Công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tƣ không phải là cổ đông lớn nắm giữ; (ii) ông ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với UB KNN theo quy định. Theo đó T K đƣợc chia làm hai loại, một là T K niêm yết và hai là T K không niêm yết. ác T K phải tuân thủ các quy định của Luật Chứng khoán về công bố thông tin, công khai minh bạch và tuân thủ quy chế QTCT. Ngoài ra, không phải mọi công ty TNHH, T P đều có có thể trở thành CTCK mà phải đáp ứng các điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán của T K theo iều 74 Luật Chứng khoán năm 2019 nhƣ: (1) iều kiện về vốn – vốn điều lệ phải bằng đồng Việt Nam, vốn điều lệ tối thiểu cho từng nghiệp vụ kinh doanh; (2) iều kiện về cổ đông, thành viên góp vốn - Cổ đông, thành viên góp vốn là cá nhân không thuộc các trƣờng hợp không đƣợc quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp; Cổ đông, thành viên góp vốn là tổ chức phải có tƣ cách pháp nhân và đang hoạt động hợp pháp; hoạt 11 động kinh doanh có lãi trong 02 năm liền trƣớc năm đề nghị cấp giấy phép; BCTC năm gần nhất phải đƣợc kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần; Cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu từ 10% trở lên vốn điều lệ của 01 T K và ngƣời có liên quan của cổ đông, thành viên góp vốn đó (nếu có) không sở hữu trên 5% vốn điều lệ của 01 CTCK khác; Cổ đông, thành viên góp vốn là nhà đầu tƣ nƣớc ngoài phải đáp ứng điều kiện quy định tại iều 77 của Luật Chứng khoán năm 2019; (3) iều kiện về cơ cấu cổ đông, thành viên góp vốn - Có tối thiểu 02 cổ đông sáng lập, thành viên góp vốn là tổ chức; Trƣờng hợp T K đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty TNHH một thành viên, chủ sở hữu phải là doanh nghiệp bảo hiểm hoặc ngân hàng thƣơng mại hoặc tổ chức nƣớc ngoài đáp ứng quy định tại khoản 2 iều 77 của Luật Chứng khoán năm 2019; Tổng tỷ lệ vốn góp của các tổ chức tối thiểu là 65% vốn điều lệ, trong đó các tổ chức là doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thƣơng mại sở hữu tối thiểu là 30% vốn điều lệ; (4) iều kiện về cơ sở vật chất; (5) iều kiện về nhân sự.
Qua đó, có thể thấy việc pháp luật Việt Nam chỉ quy định T K đƣợc thành lập dƣới hình thức CTCP, Công ty TNHH là xuất phát từ những lý do nhƣ: ể bảo vệ lợi ích của khách hàng, tránh tình trạng thao túng doanh nghiệp vì lợi ích của một số ngƣời; đảm bảo chế độ công bố thông tin, báo cáo chặt chẽ và QTCT hiệu qủa; đảm bảo sự tồn tại ổn định của công ty khi có sự thay đổi một hoặc một số thành viên nào đó; đáp ứng yêu cầu quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động của CTCK so với các loại hình doanh nghiệp khác.