chương I, tác giả sẽ tập trung làm rõ các vấn đề về định nghĩa, đặc điểm, phương pháp, vai trò và ý nghĩa của việc giải thích điều ước quốc tế. Khái niệm giải thích điều ước quốc tế 1. Định nghĩa giải thích điều ước quốc tế Từ điển Therasus định nghĩa: “giải thích (interpretation) là hành động phiên dịch, làm sáng tỏ ý nghĩa”? ; hay theo từ điền Cambridge “giải thích là một giải đáp hay quan điểm về ý nghĩa của một diéu gì đó ”3. Tuy nhiên, việc giải thích điều DUOQT không chi đơn thuần chỉ là cụ thé hóa một từ ngữ hay đưa ra quan điểm về ý nghĩa của câu chữ hay một vấn đề phát sinh.
Các học giả khác nhau có chuyên môn về pháp luật quôc tê có quan điêm khác nhau về vân đê giải thích điêu ước quôc tê. Giải thích điêu ước quôc tê theo quan điêm cua giáo sư Richard Anderson Falk là cân có các kỹ năng chọn lọc ngay ở giai đoạn đâu tiên của quá trình tìm kiêm ý nghĩa của ngôn ngữ, câu từ vì các định nghĩa trong các từ điên có thê có nhiều nghĩa thông thường khác nhau. Ông luận giải điều này như sau: “Trong Từ điển tiếng Anh Oxford, một điểm khởi đầu được gợi ý bởi sự tương phản giữa định nghĩa thứ nhất và thứ ba của từ giải thích (interpretation): '1. Hanh động phiên dịch; giải thích, trình bay’; “3.
Cách ma một điều nên được giải thích; giải nghĩa thích hop.’ Các định nghĩa trong các ! Điểm a, khoản 1, Điều 2 Công ước Viên năm 1969 về luật Điều ước quốc tế. > Therasus dictionary, website < https://www.com/>, truy cập ngày 29/01/2023. 3 Cambridge dictionary, website < https://dictionary.org/>, truy cập ngày 29/01/2023. 2 từ điển được sử dụng làm điểm khởi đầu cho việc tìm kiếm, bộc lộ ý nghĩa của câu từ.
Sự khó hiểu, tối nghĩa của câu chữ làm cho việc giải thích vừa trở nên hấp dan vừa bí ân như thé một đối tượng của cuộc điều tra. Trong thời đại của tuyên truyền, quảng cáo và thao túng tiềm thức, điều cần thiết là chúng ta phải gỡ rỗi, tốt nhất có thé, chế độ thao túng khỏi các lựa chọn thay thé mang tính mô tả hơn trong nỗ lực hiểu hành động diễn giải”.* Tuy nhiên, ông Humphrey Waldock — Báo cáo viên đặc biệt của Ủy ban Pháp luật quốc tế về luật điều ước quốc tế (Special Rapporteur of ILC on the law of treaties) có quan diém như sau: “Quá trình giải thích điều ưóc quốc tế phải được quan niệm đúng đắn, nó không thé được coi là một quá trình máy móc don thuần nhằm rút ra ngữ nghĩa tat yếu từ các từ ngữ trong một văn bản, hoặc tìm kiém và phát hiện ra một số y định cu thé đã có từ trước của các bên dam phản đối với mọi tinh huống phát sinh theo một DUOT. Trong hau hết các trường họp, việc giải thích liên quan đến việc dua ra ý nghĩa cho một văn bản”.Š Trích trong cuốn “Giải thích điều ước quốc tế” (Treaty Interpretation), tác giả Richard K.Gardiner có luận giải như sau: “Điễu nay dựa trên ý tưởng rằng bên có thẩm quyền giải thích ĐƯỢT dang “tạo ra” ý nghĩa cho chính điều ước đó hơn là tìm ra lớp nghĩa bị “chôn vùi” trong điêu ước. việc giải thích ĐUOT không chỉ là nhiệm vụ tìm kiém ý nghĩa ban dau của một tuyên bố hoặc văn bản, nó cũng không chỉ don giản là chấp nhận nghĩa của từ ngữ mà không tra cứu, xem xét từ ngữ đó kỹ lưỡng.
Các quy tắc của Công ước Viên 1969 bắt dau với ý tưởng tiếp cận các diéu khoản của một DUOT một cách thiện chí và mang lại ý nghĩa thông thường cho chúng. Điêu này cho phép phạm vi xem xét câu chữ làm điểm bắt dau; nhưng điều đó nhanh chóng bị xua tan bởi môi liên hệ trực tiếp mà các quy tắc tạo ra với bồi cảnh, với yêu câu xem xét doi tượng và mục dich của điều ước quốc tế, ngay cả trước khi các yếu tô tiếp theo của quy tắc chung được xem xét (chẳng hạn như thực tiễn quốc tế và nguyên tắc chung của luật 4 Richard K.Gardiner (2015), “Treaty Interpretation”, Oxford University Press, p.Gardiner (2015), “Treaty Interpretation”, Oxford University Press, p. Việc dua ngữ cảnh và các yếu tô bồ sung này của quy tắc chung vào quy trình giải thích DUOT vượt xa nỗ lực đơn thuần nhằm nam bắt lại y nghĩa của từ ngữ, câu chữ tại thời điểm kỷ kết điều ước ” ®. Hai quan điểm trên của hai học giả đã tạo ra một van đề “tiến thoái lưỡng nan”.
Đầu tiên, theo phân tích của Giáo sư Falk, có sự tương phản giữa việc thực hiện giải thích đơn giản và đưa ra một số cách tiếp cận bên ngoài hoặc theo quy chuẩn, cách tiếp cận sau đưa ra ý tưởng rằng một DUQT có “đời sống riêng” và cần được giải thích trong tương tác của nó với bối cảnh luật pháp quốc tế. Thứ hai, là liệu người có thẩm quyên giải thích DUQT có nên tìm kiếm “nghĩa gốc” (original meaning) hay nói cách khác là cô gắng tìm ra ý định của các bên tại thời điểm ký kết DUQT hay không, hay liệu một cách tiếp cận khách quan nên được đưa vào văn bản dé mang lại ý nghĩa cho nó vào thời điểm nay sinh van đề giải thích và áp dung. Học giả Edwin Glaser có quan điểm rang việc giải thích một DUQT là “dé làm sáng tỏ ý nghĩa của văn bản của nó” và ông xác định ba nhóm vấn đề cần giải quyết: “(i) giải thích điều ước quốc tế nghĩa là gì, đó là van đề khách thé của việc giải thích điều ước; (ii) người có thâm quyên giải thích điều ước quốc tế; cách giải thích văn bản bắt nguồn từ ai, cơ quan nào, hiệu lực pháp lý của việc giải thích đó, tức là vấn dé cách thức giải thích điều ước; (iii) cách giải thích điều ước quốc tế, tức là bao gồm các quy định của luật quốc tế về giải thích điều ước”.” Qua những phân tích, nghiên cứu trên của các học giả, tác giả đưa ra quan điểm về khái niệm giải thích DUQT như sau: “Giải thích DUQT là việc vận dụng các phương pháp của các cơ quan, tô chức, cá nhân có thẩm quyền dé làm sáng tỏ ý nghĩa câu từ, ngôn ngữ của DUQT hoặc để thống nhất đưa ra ý nghĩa cho điều khoản vào thời điểm phát sinh vẫn đề giải thích DUQT va áp dụng DUQT”. Đặc điểm giải thích điều ước quốc tế 5 Richard K.Gardiner (2015), “Treaty Interpretation”, Oxford University Press, p.
7 Jana Maftei & Varvara Licuta Coman (2012), “Jnterpretation of treaties”, Acta Universitatis Danubius Vol. 11 e Dac điểm về chu thê giải thích điêu ước quốc tê Một ĐƯQT có thé được nhiều bên giải thích trong nhiều trường hợp khác nhau, chủ thể giải thích DUQT bao gồm các quốc gia ký kết, các cơ quan tai phán, tổ chức quốc tế liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ, các công ty, tổ chức và cá nhân (học giả). Tuy nhiên chỉ có một số ít trong các bên đó thực sự có quyền giải thích có giá tri (authoritative interpretation) một DUQT — tạm gọi là giải thích chính thức. Giải thích của những bên còn lại mang tinh chất tham khảo, không có bất kỳ giá trị pháp lý, gọi là giải thích không chính thức.
Lưu ý rằng cần phân biệt giữa giá trị pháp lý và tính chính xác của nội dung giải thích, ví dụ như giải thích của học gia không có giá trị pháp lý nhưng không có nghĩa là giải thích sai. Hai nhóm chủ thé mà sự giải thích DUQT của họ có giá trị pháp ly đó là: các quốc gia ký kết DUQT và các cơ quan tài phán quốc tế, tổ chức quốc tế được trao thâm quyền. Do việc giới hạn trong phạm vi KLTN, tác giả sẽ chỉ đề cập hai chủ thé trên mà việc giải thích DUQT của nhóm chủ thé này có giá trị pháp lý: - _ Nhóm chủ thể là quốc gia Đây là nhóm chủ thé đương nhiên có thấm quyên do chính các quốc gia xác lập nên các điều DUQT theo ý chí chung, nhằm tạo ra quyền và nghĩa vụ cho chính mình. Đây chính là nguyên tắc chủ thể nào có quyền năng xác lập các quy định pháp lý thì có quyền năng giải thích các quy định đó.
Quyền năng ký kết điều ước quôc tê đông thời cũng tương ứng với quyên năng giải thích điêu ước quôc tế”. Một điểm cần lưu ý là việc giải thích ĐƯQT của nhóm chủ thê là các quốc gia không được mang tinh đơn phương (giải thích DUQT phải mang tính tập thé), nghĩa là việc giải thích DUQT chỉ có giá trị pháp lý khi được tất cả các bên ký kết DUOQT đồng thuận. Do đó, tuyên bố đơn phương giải thích DUQT của một quốc gia không có giá trị pháp lý. Một ví dụ cho điều này đó là tuyên bố đơn phương giải thích của Nga trong việc áp dụng quyên tự vệ theo Điều 51 của Hiến chương LHQ 8 Trần Hữu Duy Minh (2018), “Thẩm quyền giải thích điều ước quốc tẾ”, bai đăng tại https:⁄/iuscogens- vie.org/2018/11/25/109/, truy cập ngày 01/02/2023.
? Trần Hữu Duy Minh (2018), “Giải thích điều ước quốc tế theo quy định của Công ước Viên năm 1969 và pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật - Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 10/2018, tr. 12 để phát động “Chiến dịch quân sự đặc biệt” ở Ukraine vào ngày 24/02/2022 là vi phạm quy định pháp luật quốc tế. - - Nhóm chủ thê là các cơ quan tai phán, tô chức quôc tê có thâm quyên Khác với nhóm chủ thé trên, nhóm chủ thé này không đương nhiên có thẩm quyền giải thích DUQT, bản chất dé việc giải thích DUQT của nhóm chủ thé này có hiệu lực thì phải được các quốc gia tức các bên ký kết DUQT trao cho thâm quyền giải thích DUQT. Đây là quyền phái sinh cua nhóm chủ thé này.
Ban thân DUQT sẽ bao gồm những quy phạm chứa đựng thâm quyền của Tòa án quốc tế hoặc các tòa trọng tài đặc biệt (do chính các quốc gia ký kết ĐƯỢT thỏa thuận trao thẩm quyền). Chang hạn như việc giải thích điều ước quốc tế của tòa ICJ chỉ được phép khi các bên tranh chấp đệ trình và chấp nhận thâm quyền của Tòa trong từng vụ việc cụ thể. Hơn nữa, các cơ quan của Liên hợp quốc có quyền giải thích quy định của Hiến chương và việc giải thích này gồm việc giải thích thông qua việc xin ý kiến tư van của Tòa IC1J!9, Việc giải thích ĐƯQT của nhóm cơ quan này có thể có giá trị chung cho tất cả các bên hoặc chỉ áp dụng cho một số bên tranh chấp trong vụ việc liên quan.