Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE TRÁCH NHIỆM HÌNH SU DOI VỚI CAC TOI XÂM PHAM NHÂN PHAM, DANH DU CUA CON NGƯỜI 1. Khái niệm, co sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người 1. Khái niệm và đặc điểm cơ bản về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người * Khái niệm và đặc điểm cơ bản của TNHS Thuật ngữ “trách nhiệm” thường được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, như một nghĩa vụ, bốn phận phải thực hiện; thứ hai, được xem là một hậu quả bắt lợi phải gánh chịu [23, tr. TNHS là một loại trách nhiệm pháp lý, được dùng theo nghĩa thứ hai, tức là theo nghĩa hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thê vi phạm pháp luật phải gánh chịu.
TNHS là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, do đó từ khi cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội chính thức bị kết tội bởi bản án có hiệu lực của Toa án thì những hậu quả đó mới gọi là TNHS [44, tr. Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng trước khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật không được coi là TNHS. Ké từ khi chính thức bị coi là có tội, cá nhân, pháp nhân thương mại sẽ phải chịu hậu quả pháp lý là chịu sự kết tội băng bản án có hiệu lực của Tòa án, chịu hình phạt, các biện pháp cưỡng chế hình sự khác va mang án tích. Án tích mặc dù không được tuyên trong bản án kết tội nhưng cũng là hậu quả pháp lý bat lợi kèm theo ban án kết tội, trừ những trường hợp không bị coi là có án tích theo quy định của BLHS.
Từ phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm sau: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp ly, là hậu quả pháp lý bat lợi mà cá nhân, pháp nhân thương mại phạm toi phải chịu do đã thực hiện hành vi phạm tội, được thể hiện ở bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cua Toa án, hình phạt, các biện pháp cưỡng chế hình sự khác do Bộ luật hình sự quy định và mang án tích. Có thể thấy TNHS mang những đặc điểm cơ bản sau: Một là, TNHS là hậu quả pháp lý khi cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội. Chi khi nào hành vi cua cá nhân hoặc pháp nhân thương mại phạm tội bị coi là tội phạm theo quy định của BLHS thì cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội đó mới phải chịu TNHS. Hai là, cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội là chủ thể phải chịu TNHS.
Giữa TNHS của cá nhân người phạm tội và TNHS của pháp nhân thương mại phạm tội có điểm khác nhau. Pháp nhân thương mại là “con người pháp lý” nên hình thức chịu TNHS của pháp nhân thương mại không thê giống với hình thức chịu TNHS của cá nhân người phạm tội [44, tr. Ba là, TNHS của cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội biểu hiện ở bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, hình phạt, các biện pháp cưỡng chế và mang án tích. Bốn là, TNHS của cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội được xác định thông qua trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, do các cơ quan có thâm quyên tiến hành tổ tụng thực hiện.
Năm là, TNHS của cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội là trách nhiệm trước Nhà nước chứ không phải với cá nhân, tô chức bị hành vi phạm tội xâm hại trực tiếp. Khi tội phạm xảy ra sẽ xuất hiện quan hệ pháp luật đặc biệt giữa Nhà nước thông qua các cơ quan, người có thầm quyên tiến hành tố tung và cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội. Trong đó, Nhà nước thông qua các cơ quan, người có thâm quyền có quyền truy cứu TNHS và xét xử dé áp dụng TNHS đối với cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội; còn cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội có nghĩa vụ chịu sự truy cứu TNHS và xét xu, đồng thời phải chịu TNHS do cơ quan, người có thâm quyên tiến hành tố tụng áp dụng. 10 * Khải niệm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người Theo Từ điển Tiếng Việt thì “danh dự” được hiểu là sự coi trọng của dư luận xã hội, dựa trên giá tri tinh thần, đạo đức tốt đẹp và nhằm mang lại danh dự, nhằm tỏ rõ sự kính trọng của xã hội vé con người hoặc tô chức nào đó và được thừa nhận như một quyền nhân thân [23, tr.
Danh dự của con người được hình thành qua hoạt động thực tiễn, biểu hiện ở phương diện đạo đức và xã hội. Danh dự của mỗi con người biểu hiện qua sự uy tín và tự trọng, ở góc độ cá nhân thì đó là khả năng mỗi người tự nhìn nhận về giá tri, vi trí của bản thân mình, còn ở góc độ xã hội thì đó là sự ghi nhận, nhìn nhận, cảm phục về mặt đạo đức, tài năng của tập thể, xã hội đối với cá nhân đó. Như vậy, danh dự là yếu tố thuộc về cá nhân, gan với chủ thé nhất định, là một trong các yếu tố dé thê hiện uy tín của một người trong cộng dong, xã hội và không ai được phép xâm phạm quyền được bảo vệ về danh dự của cá nhân. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “nhân phẩm” là “phẩm chất, giá trị của cá nhân cụ thể, được pháp luật bảo vệ” [23, tr.
Nhân phẩm là tổng hợp những phẩm chat riêng của mỗi cá nhân cụ thé, những yếu tố này tạo nên giá trị một con người. Nhân phẩm luôn gắn chặt với mỗi cá nhân, hình thành từ khi cá nhân được sinh ra. Danh dự và nhân phẩm của cá nhân là những yếu tố gan liền với quyền nhân thân, giữa chúng còn có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, pháp luật nói chung, BLHS nói riêng ghi nhận và bảo vệ các quyền về danh dự, nhân phẩm cho mọi người. Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là những hành vi có lỗi xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của người khác, đây là một trong những quyền bất khả xâm phạm được Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện.
Không cá nhân hoặc bat ky co quan, to chức nào có quyên xâm phạm đên danh dự, nhân phâm của người khác, mọi 11 hành vi xâm phạm đến quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự của người khác đều là phạm pháp và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Có thé rút ra khái niệm từ những phân tích trên như sau: Các toi xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách co lỗi xâm phạm quyên được tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của người khác. Qua khái niệm trên, có thể thấy một số đặc điểm của tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người như sau: Một là, tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ được xem là tội phạm nếu hành vi của chủ thé thực hiện mang tính nguy hiểm cho xã hội biéu hiện ở dạng nhất định [22, tr.
Hai là, các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người phải mang tính luật định, tức là phải được BLHS quy định. Phần chung trong BLHS quy định dấu hiệu pháp lý chung đối với tất cả các tội phạm. Phần các tội phạm quy định dấu hiệu pháp lý riêng, đặc trưng và chế tài đối với các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người tại các điều luật cụ thể. Ba là, để xác định TNHS đối với chủ thé thực hiện hành vi phạm tội, thì lỗi là dấu hiệu pháp lý bắt buộc cần có ở tất cả các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.
Thái độ tâm lý chủ quan của người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người chính là yếu tố thể hiện lỗi. Chỉ trong trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm xâm phạm quyền nhân phẩm, danh dự có lỗi thì việc áp dụng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác mới đạt được ý nghĩa giáo dục, cai tao và trừng tri họ. Bốn là, cũng như các tội phạm khác, để xác định TNHS về tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm con người thì yếu tố bắt buộc là người thực hiện hành vi phạm tội phải đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo quy định 12 của BLHS. Đối với từng tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người cụ thé, có tội quy định chủ thé chịu TNHS phải từ 16 tuổi trở lên hoặc có tội quy định chủ thể chịu TNHS từ đủ 14 tuổi.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm: Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bat lợi mà cá nhân phạm tội phải chịu do đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, xâm phạm quyên được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của người khác, được thể hiện ở bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toa an, hình phạt, các biện pháp cưỡng chế hình sự khác do Bộ luật hình sự quy định và mang án tích. Bên cạnh những đặc điểm chung của TNHS, thì xuất phát từ tính chất của nhân phẩm, danh dự của con người là các giá trị gan với đặc điểm nhân thân của chủ thê xác định, những giá trị này không thể là đối tượng của các giao dịch như tặng, cho, bán, mua,. trong các hoạt động của con người, cho nên TNHS đối với các tội xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người cũng mang đặc trưng riêng. Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người được thừa nhận chung trong pháp luật quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia [10, tr.
Vì xâm phạm vào các giá trị nhân thân nên TNHS đối với các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người rất khó xác định, lượng hóa, và hậu quả do loại tội phạm nảy gây ra cũng tác động nặng nè tới đời sống tinh thần của bị hại.