CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Khái quát về BHXH 1.1 Sơ lược về quá trình hình thành ngành BHXH. Con người chúng ta có rất nhiều nhu cầu: ăn, ở, mặc, lao động, giải trí,… Để thoả mãn được những nhu cầu như vậy, cần phải làm việc, lao động. Trong cuộc sống không phải mọi việc lúc nào cũng suôn sẻ, không ai có thể đoán trước được những rủi ro có thể xảy ra. Rủi ro có thể khiến con người mất khả năng tạo ra thu nhập để nuôi bản thân và gia đình, và có thể còn dẫn đến đau ốm và mất cả tính mạng.
Những lúc như vậy, những nhu cầu thiết yếu không những không giảm mà còn tăng lên (như khi ốm cần có thuốc men để chữa trị, người chăm sóc, ăn uống để phục hồi sức khỏe, hay có thể chi phí để lo ma chay….) và gia đình sẽ rất hụt hẫng khi mất đi một người trụ cột, trở thành gánh nặng cho gia đình, …. Đó là những vấn đề mà con người luôn tìm cách giải quyết sao cho thích hợp nhất. Qua các thời kỳ Chiếm hữu nô lệ rồi chế độ Phong kiến, hầu như người dân luôn nương tựa vào nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn, Ông bà ta thường 4 nói “bà con xa không bằng láng giềng gần”, gần nhau và giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn. Kinh tế hàng hóa xuất hiện và phát triển, khoảng thế kỷ thứ 12, Hiệp hội thủ công ở Hy Lạp đã cùng nhau thành lập quỹ để trợ cấp các trường hợp ốm đau, tai nạn.
Đến thế kỷ thứ 16, những người trồng nho ở thung lũng Anpe (Pháp) cũng thành lập quỹ dùng cho trường hợp ốm đau, tai nạn. Tuy nhiên, những hình thức quỹ như thế chỉ có ý nghĩa giúp đỡ nhau lúc ốm đau, hoạn nạn mà không có ý nghĩa phát triển bền vững. Khi nền công nghiệp phát triển, xuất hiện thuê mướn công nhân, lúc đầu chủ trả tiền công cho thợ căn cứ vào chất lượng và số lượng lao động, nhưng khi giới thợ gặp tai nạn lao động, ốm đau không làm được việc thì họ mất đi nguồn thu nhập, người lao động và gia đình gặp phải nhiều khó khăn nhưng phải tự vượt qua. Cho đến khi đội ngũ công nhân phát triển, họ liên kết lại với nhau, và đòi giới chủ phải trợ cấp cho họ những lúc ốm đau, tai nạn, thai sản.
Những vấn đề này lúc đầu không được giải quyết, nhưng về sau do công nhân đình công có tổ chức, cuối cùng giới chủ cũng phải nhượng bộ chấp nhận trợ cấp. Vào thời kỳ này, giới chủ không lường trước được những rủi ro mà công nhân có thể gặp phải nên khi cần trợ cấp, họ phải chi số tiền quá lớ n làm chính họ gặp phải những khó khăn, nên họ tìm cách không trợ cấp, từ đó lại xảy ra những cuộc đình công lớn. Trước tình hình trên, nhà nước ở một số nước bắt đầu can thiệp. Quốc gia có nhà nước can thiệp đầu tiên là Đức, Chính phủ là trung gian giữa chủ và thợ, tùy theo quy mô hoạt động mà quy định hàng tháng giới chủ phải đóng vào tổ chức trung gian một số tiền nhất định để khi phát sinh nhu cầu cần trợ cấp thì tổ chức trung gian sẽ xem xét và chi trả.
Từ đó, Bảo hiểm xã hội ra đời, trong đó, tổ chức trung gian tương đương với cơ quan Bảo hiểm xã hội ngày nay, giới chủ là người sử dụng lao động và những người thợ là người lao động. Đạo luật BHXH đầu tiên trên thế giới tại Đức do Bismarck 5 soạn thảo và ban hành năm 1883. Đến năm 1885, Bismarck lại cho ra đời đạo luật tai nạn lao động và đến năm 1888, ông tiếp tục ban hành chế độ hưu trí. Sau đó, những nước khác cũng hình thành hệ thống BHXH như Áo, Tiệp Khắc (1906), Newzealand (1909), Italia (1919), Liên Xô (1922), Mỹ (1953), … hiện nay hầu hết các nước đều có cơ quan BHXH, BHXH đã trở thành chính sách xã hội của tất cả các nước, không những quỹ BHXH đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình của họ lúc hoạn nạn, mà còn góp phần bảo đảm an toàn xã hội và phát triển kinh tế, ổn định chính trị.
Lúc đầu chỉ có giới chủ đóng góp, về sau, BHXH phát triển hơn, người ta quy định luôn cả sự đóng góp của người lao động, điều này có ý nghĩa tiết kiệm cũng như ý nghĩa đề phòng rủi ro cho chính bản thân người lao động. Nguyên tắc hoạt động của BHXH là lấy số đông bù số ít và theo thời gian tích dồn lại để lập quỹ.2 Một số khái niệm: 1. Khái niệm bảo hiểm: Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị [rủi ro], thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng,. (Trích từ wikipedia – www.org) (1) Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu, ví dụ như: - Xét về mặt xã hội, "Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít". (1) 6 - Xét về góc độ kinh tế, luật pháp: "Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho một người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê". (1) - Xét góc độ kỹ thuật tính: "Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được".
(1) Theo các chuyên gia Pháp, một định nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh xã hội (dùng cho bảo hiểm xã hội) vừa đáp ứng được khía cạnh kinh tế (dùng cho bảo hiểm thương mại) và vừa đầy đủ về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau: "Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê".2 Khái niệm Bảo hiểm xã hội Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Bảo hiểm xã hội là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, của người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ giúp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường 7 do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết” [36, tr 18]. Theo điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động, chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH [33, tr 6]. Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung hai khái niệm này đều thể hiện rõ bản chất và đặc trưng cần có của BHXH. Cụ thể, đã nêu bật được: - BHXH là những quy định của nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho người lao động. - Người lao động được trợ giúp vật chất trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết. - Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp để bảo đảm quyền lợi cho chính họ.
Như vậy, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động, chết và thất nghiệp do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của Nhà nước, nhằm góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ đồng thời góp phần bảo vệ an toàn xã hội.3 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội: BHXH là một hình thức bảo hiểm có tầm quan trọng đối với một quốc gia, nó ra đời, tồn tại và phát triển là một nhu cầu khách quan. Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến thì càng đòi hỏi sự phát triển và đa dạng của BHXH. BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH. Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH.
Chủ sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH. Người lao động và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định. Đó chính là mối quan hệ của bên tham gia BHXH. Từ mối quan hệ về BHXH, nếu xem xét một cách toàn diện thì BHXH hàm chứa và phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, mục đích hoạt động của BHXH không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của người lao động, của cả cộng đồng, là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động.