CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE NGUON HÌNH THÀNH, ĐẦU TƯ QUY BẢO HIẾM XÃ HỘI VÀ SỰ DIEU CHINH CUA PHÁP LUẬT 1. Nguồn hình thành và đầu tư quỹ Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm, vai trò nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội Khái niệm nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội Dé có thé đưa ra được định nghĩa, khái niệm cho nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hôi, trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu BHXH là gì? Mục đích của BHXH? Theo tìm hiểu của tác giả, Hệ thống BHXH đầu tiên trên thế giới ra đời từ năm 1838 tại Đức. Đến nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã xây dựng và ngày cảng hoàn thiện hệ thống BHXH như một phần quan trong trong chính sách an sinh xã hội quốc gia.
BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau với các cách tiếp cận khác nhau. Đại từ điển Tiếng Việt cũng có sự tiếp cận BHXH theo cách như sau: BHXH là: “sự bảo đảm những quyên lợi vật chất cho công nhân viên chức khi không làm việc vì 6m dau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động ” [Š0, tr. Theo từ điển Luật học: BHXH là chế định pháp luật lao động, gồm các quy phạm pháp luật quy định về chế độ trợ cấp, ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động; bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ tử tuất nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, chăm sóc, phục hồi sức khỏe, góp phần 6n định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác [48, tr. BHXH được tô chức Lao động quốc tế (ILO) đã đề cập là: Sự bảo vệ của cộng đồng xã hội đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp [31].
BHXH đã có nền móng dưới thời phong kiến Pháp thuộc tại Việt Nam. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1946; Hiến pháp năm 1959 đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH và được cụ thé hóa trong Nghị định 218/CP năm 1961 và Nghị định 161/CP năm 1964 của Chính phủ. Hiện nay, Hiến pháp công nhận BHXH đã trở thành một chính sách lớn va được pháp luật điều chỉnh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH 2014, BHXH là: “sự bảo đảm thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập của NLD khi ho bị giảm hoặc mat thu nhập do 6m dau, thai sản, tai nạn lao dong, bệnh nghé nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” [36, Điều 3, Khoản 1].
Như vậy, BHXH về thực chất là một phương pháp phân phối lại thu nhập bằng cách sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ, nhằm góp phần cân bằng thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp có trợ cấp từ BHXH. Để đảm bảo thực hiện các mục tiêu của BHXH, quỹ BHXH được hình thành và phát triển gắn liền với các chế độ BHXH nhằm đáp ứng các nhu cầu thực tế của cả NLD và NSDLĐ. NLD nhận thức rõ về các rủi ro dẫn đến việc suy giảm hoặc mất đi thu nhập, do đó, có nhu cầu thiết lập một nguồn quỹ nhăm bu đắp khoản thu nhập bi mat đi. Về phía NSDLD, bản thân họ cũng chịu ảnh hưởng từ các rủi ro trên và chịu một phần trách nhiệm đối với NLĐ.
Do đó, cả hai bên trong quan hệ lao động đều có nhu cầu thành lập một quỹ chung nhằm hỗ trợ cho NLĐ khi gặp các rủi ro trong quá trình làm việc. Các nguồn quỹ ban đầu chỉ mang tính chất tự phát với phạm vi nhỏ hẹp đã phát triển thành cơ chế hỗ trợ hữu ích và rộng khắp. Mối quan hệ tương trợ này nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước để ngày càng phát triển về quy mô trong phạm vi quốc gia, hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung và được quản lý thông nhất. Quỹ BHXH có các cách định nghĩa khác nhau.
Theo nghĩa rộng thì quỹ bảo hiểm xã hội được hiểu là: Tập hợp những phương tiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu phát sinh về bảo hiểm xã hội trên cơ sở đóng góp của những người tham gia bảo hiểm xã hội; Theo nghĩa hep thì quỹ bảo hiểm xã hội được hiểu là: Tập hợp những đóng góp bằng tiền của người tham gia bảo hiểm xã hội, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung dé chi trả cho người được bảo hiểm xã hội và gia đình họ khi bi giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mat việc làm [43, tr. Nguồn hình thành quỹ BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, đo đó có nhiều cách hiểu khác nhau về nội dung khái niệm này. Theo định nghĩa từ từ điển tiếng Việt Việt Nam thì: Nguồn là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra sự vật, sự việc hoặc có thể là nơi cung cấp Nguồn hình thành quỹ là nơi bắt nguồn tập trung thu thập, lưu trữ các khoản thu từ các bên tham gia dé chi cho những những mục đính nhất định, thống nhất. Như vậy, có thé hiểu: nguồn hình thành quỹ BHXH là từ các bên tham gia BHXH và quỹ được sử dụng đề chỉ trả cho người được BHXH và gia đình họ khi họ bị suy giảm hoặc mất sức lao động, mất việc làm hoặc chết.
Tóm lại, có thể thấy quỹ BHXH là một quỹ an sinh xã hội, không vì mục đích lợi nhuận. Quỹ BHXH hình thành trên cơ sở đóng góp của NLD, NSDLD và phat triển hoàn thiện đưới su bảo trợ của Nha nước nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thực của các bên trong quan hệ lao động cũng như mục tiêu ổn định an sinh xã hội của mỗi quốc gia. Cụ thé hơn, quỹ BHXH ra đời nhằm mục đích đảm bảo đời sống và quyền lợi của NLĐ khi họ gặp phải những biến có, rủi ro, hoặc khi hết tuổi lao động mà họ không thể lao động được. Vai trò của nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội An sinh xã hội luôn là một ưu tiên hàng đầu không chỉ với Việt Nam mà đối với mọi quốc gia trên thế giới.
Dé dam bảo mục tiêu an sinh xã hội thì việc đảm bảo nguồn hình thành quỹ BHXH là yếu tổ quan trọng. Vai trò của nguồn hình thành quỹ BHXH như sau: - Đảm bảo quỹ BHXH, dam bảo việc chi trả các chế độ an sinh xã hội. Qua đó đảm bao cho NLD giảm thiểu những rủi ro, giữ được những quyên lợi cơ bản nhất đề yên tâm lao động, góp phan phát triển kinh tế - xã hội. - Xóa đói và giảm nghèo, phân phối thu nhập, giảm sự khác biệt, thu hẹp chênh lệch về điều kiện sống theo các nhóm dân cư.
Khái niệm, vai trò đầu tư quỹ Bảo hiểm xã hội Về khái niệm Nghĩa chung nhất, hoạt động đầu tư là quá trình bỏ von dé tạo ra một tài sản đem lại lợi nhuận và có những đặc điểm chung sau: Yếu tố tiên quyết của hoạt động đầu tư đó là nguồn lực, bao gồm nguồn lực vật chất va con người. Trong đó, yếu té vật chất là nền tảng của hoạt động đầu tư bởi lẽ nếu không có nguồn vốn bằng tiền hay tai sản thì không thé tiến hành các hoạt động dau tư; yếu tố con người là yếu tố quyết định tới quá trình cũng như kết quả của hoạt động đầu tư. Khi tiến hành hoạt động đầu tư, nhà đầu tư luôn đặt trước cho mình một kỳ vọng nào đó được gọi là mục tiêu. Sau đó nhà đầu tư sẽ sử dụng nguồn lực vật chất và con người của mình dé tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện được những mục tiêu ban đầu đã đề ra.
Dé đánh giá hiệu quả của hoạt động dau tư, can xét nhiêu vào các yêu 10 tố khác nhau. Tùy thuộc vào sự chi phối của các tác động bên ngoài mà hoạt động dau tư có thé thu được những hiệu quả tốt hoặc xấu. Không phải lúc nào khi tiến hành các hoạt động đầu tư nhà đầu tư cũng thu được lợi ích lớn hơn so với ban đầu mà có thé chịu những rủi ro do không sử dụng và quản lý tốt các nguồn lực cũng như dự báo và xử lý tốt những nhân tố ảnh hưởng trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư không mang tính ngắn hạn.
Dé thu được kết quả như đã dé ra ban đầu, nhà đầu tư thường phải tiến hành nhiều khâu, nhiều bước khác nhau. hoạt động này diễn ra dài hạn. Ngoài các đặc điểm chung của hoạt động đầu tư như trên, hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội còn mang một số đặc trưng riêng, cụ thể như sau: Thứ nhất, von đầu tư là khoản tiền tạm thời: Đây không phải vốn kinh doanh mà là nguồn tài chính của quỹ BHXH nhằm thực hiện trách nhiệm của BHXH đối với người lao động. Do đó, trong thời gian chưa sử dụng chỉ trả các chế độ BHXH cho người lao động thì khoản tiền này gọi là “tạm thời”, “nhàn rỗi”.
Do nguồn vốn đầu tư là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi nên hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH không phải chịu sức ép về lãi suất nhưng phải dam bảo bảo toàn được nguồn vốn bỏ ra, thu hồi vốn. Thứ hai, hình thức đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội thường kém đa dạng hơn so với các hoạt động đầu tư khác: Điều này xuất phát từ bản chất nguồn vốn của hoạt động đầu tư là khoản tiền nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm xã hội. Do nguồn vốn của quỹ bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo các quyền lợi an sinh xã hội cho người lao động nên quỹ luôn phải có một khoản tiền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ này. Đề đảm bảo an toàn cho quỹ, phục vụ việc chi trả các chế độ, chính sách của BHXH nên việc đầu tư từ quỹ BHXH thường được thực hiện vào một số lĩnh vực nhất định, có độ rủi ro thấp.
Vì vậy, hình thức đầu tư từ quỹ BHXH thường kém đa dạng hơn so với các hoạt động đầu tư khác. 11 Thứ ba, bảo tòa quỹ và tăng trưởng quỹ là mục đích của hoạt động đầu tư. Khác với các hoạt động đầu tư thông thường, mục đích cuối cùng hướng tới là lợi nhuận.