CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT THU BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Lý luận chung về kiểm soát 1. Khái niệm về kiểm soát: Kiểm soát là quá trình xác định thành quả đạt được trên thực tế và so sánh với những tiêu chuẩn nhằm phát hiện sự sai lệch và nguyên nhân sự sai lệch, để đưa ra các giải pháp điều chỉnh sự sai lệch để đảm bảo hoạt động theo đúng khuôn khổ nhất định. Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân, 1998), kiểm soát là việc xem có gì sai quy tắc, kỷ luật, điều lệ hay không.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, 2010), kiểm soát được hiểu là kiểm tra, xem xét nhằm ngăn ngừa sai phạm theo quy định. Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Quang Quỳnh (1998), kiểm soát được hiểu là tổng thể các phương sách để nắm lấy và điều hành các đối tượng hoặc khách thể quản lý. Theo đó, kiểm soát được hiểu là cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua các biện pháp hoặc chính sách; đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc ảnh hưởng hoặc chi phối đáng kể dựa trên quyền lợi và lợi ích; nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua nội quy, quy chế. Từ khái niệm trên có thể đi đến một khái niệm chung về kiểm soát đó là, kiểm soát được hiểu là quá trình xem xét, đánh giá để phát hiện và ngăn chặn những gì trái quy định nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch được thực hiện một cách có hiệu quả.
Vai trò của kiểm soát: Kiểm soát là một chức năng quan trọng, nó có vai trò và ý nghĩa to lớn trong quá trình quản trị: - Giúp nhà quản trị nắm được tiến độ và chất lượng thực hiện công việc của các cá nhân, bộ phận trong tổ chức. 7 - Kiểm soát tạo ra chất lượng tốt hơn, hạn chế các rủi ro cho mọi hoạt động trong tổ chức. - Kiểm soát giúp cho các tổ chức thực hiện đúng các chương trình, kế hoạch với hiệu quả cao. - Tạo thuận lợi thực hiện tốt việc phân quyền và cơ chế hợp tác trong tổ chức; giúp phát hiện sớm các sai sót, vi phạm để kịp thời khắc phục, chấn chỉnh.
Kiểm soát là một hệ thống phản hồi quan trọng đối với công tác quản trị. Chính nhờ hệ thống phản hồi này mà các nhà quản trị biết rõ được thực trạng tổ chức mình, những vấn đề trọng tâm cần phải giải quyết, từ đó chủ động tìm các biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm đạt được mục tiêu đã xác định. Các nguyên tắc kiểm soát: - Đảm bảo tính chiến lược và hiệu quả - Đúng lúc, đúng đối tượng, đúng quy trình, quy định - Công khai, chính xác, trung thực, khách quan 1. Phân loại kiểm soát: 1.
Theo thời gian tiến hành kiểm soát: Kiểm soát trước: được tiến hành trước khi công việc bắt đầu thực hiện, nhằm ngăn chặn các vấn đề có thể xảy ra, cản trở cho việc thực hiện công việc. Kiểm soát trong: được thực hiện trong thời gian tiến hành công việc nhằm giảm thiểu các vấn đề phát sinh làm ảnh hưởng xấu đến thực hiện công việc. Kiểm soát sau: được tiến hành sau khi công việc được hoàn thành nhằm điều chỉnh các vấn đề đã xảy ra. Theo tần suất các cuộc kiểm soát: Kiểm soát liên tục: được tiến hành thường xuyên các công việc phát sinh hàng ngày đối với đối tượng kiểm soát.
Kiểm soát định kỳ: được thực hiện theo kế hoạch đã dự kiến trong mỗi thời kỳ nhất định (thường là trong một năm). Kiểm soát đột xuất: được tiến hành tại thời điểm bất kỳ, không theo kế hoạch khi phát sinh các dấu hiệu vi phạm trong công việc. Theo mức độ tổng quát của nội dung kiểm soát: 8 Kiểm soát toàn bộ: được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, các bộ phận, các khâu, các cấp nhằm đánh giá tổng quát mức độ thực hiện mục tiêu chung. Kiểm soát bộ phận: được thực hiện với từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận, từng khâu, từng cấp.
Kiếm soát cá nhân: là kiểm soát được thực hiện đối với từng con người cụ thể trong tổ chức. Theo đối tượng kiểm soát: Kiểm soát cơ sở vật chất kỹ thuật: được thực hiện nhằm đánh giá tình hình thực trạng cơ sở vật chất của tổ chức. Kiểm soát quy trình: được thực hiện nhằm đánh giá lại các quy trình, quy định nội bộ đảm bảo các nội dung hiệu quả, đúng quy định pháp luật. Kiểm soát con người: được thực hiện nhằm đánh giá con người trên các mặt: năng lực, tính cách, kết quả thực hiện công việc, tinh thần trách nhiệm, sự thõa mãn với công việc.
Kiểm soát tài chính: được thực hiện nhằm đánh giá tình hình tài chính của tổ chức như đánh giá ngân sách, công nợ. Kiểm soát thông tin: là kiểm soát được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng của thông tin trong tổ chức. Đặc điểm công tác thu BHXH: 1. Sự ra đời của BHXH BHXH hình thành từ nhận thức rằng nền kinh tế thị trường cạnh tranh không phân phát thành quả của nó một cách công bằng cho tất cả mọi người, và hệ thống quản lý kinh tế thị trường đôi khi bị suy nhược.
Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường luôn có sự cạnh tranh về lợi ích và chi phí, nhưng cả hai yếu tố này (lợi ích và chi phí) thì không được chia sẻ đồng đều. Đặc biệt khi NLĐ không may gặp rủi ro, sự cố như: ốm đau, bệnh tật, TNLĐ, mất việc làm…phải nghỉ việc. Khi đó, NLĐ sẽ phát sinh thêm các chi phí khám chữa bệnh, điều trị, chăm sóc phục hồi sức khỏe sau điều trị,… Trong thời gian nghỉ việc, NLĐ không được trả lương dẫn đến khó khăn hơn về tài chính và không yên tâm làm việc. Vì vậy, lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động 9 nhưng sau đó đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho NLĐ có một số thu nhập nhất định để họ trang trải khi không may gặp những khó khăn đó.
Trong thực tế, nhiều khi các rủi ro trên không xảy ra và người chủ không phải chi ra đồng nào nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn mà họ không muốn. Do đó mâu thuẫn chủ thợ càng trở nên vô cùng gay gắt. Khi những mâu thuẫn này kéo dài Nhà nước phải đứng ra can thiệp bằng cách buộc giới chủ phải có trách nhiệm hơn đối với NLĐ mà mình sử dụng, thể hiện ở việc phải trích ra một phần thu nhập của mình để hình thành quỹ. Sau đó dùng nguồn quỹ này để trợ cấp cho NLĐ và gia đình họ, khi NLĐ không may gặp những rủi ro và sự cố bất ngờ.
Đồng thời, Nhà nước đứng ra bảo trợ cho quỹ. Bằng cách đó cả chủ và thợ đều thấy mình có lợi và tự giác thực hiện, cuộc sống của NLĐ được đảm bảo. Người chủ được bảo vệ việc sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Từ đó, BHXH được ra đời như một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy cần phải tham gia hệ thống BHXH này.
Sự ra đời của hệ thống BHXH là một trong những sáng tạo của loài người trong lịch sử phát triển xã hội. Ý tưởng về BHXH được xem là một ý tưởng về chủ nghĩa xã hội. Phân loại BHXH: Luật BHXH năm 2014 đã phân loại BHXH gồm: BHXH bắt buộc và BHXH TN. Một số khái niệm về BHXH: BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH.
Hiểu đơn giản rằng, đây là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả năng làm việc hoặc mất việc làm. BHXH bắt buộc là bảo hiểm mà bắt buộc những người khi tham gia lao động và những người chủ lao động phải đóng. Thông thường, chủ doanh nghiệp và NLĐ cùng chi trả cho loại bảo hiểm này với mức chia NSDLĐ phải đóng nhiều hơn. 10 BHXH TN là loại bảo hiểm không bắt buộc, mọi người được phép lựa chọn có thể mua hoặc không và chọn mua theo khả năng của mình, tùy vào điều kiện thu nhập của cá nhân và gia đình với những mức đóng khác nhau.
Công tác thu BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH được tập trung thất nhất. Đó chính là hoạt động của các cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa phương cùng sự phối hợp của các ban, ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH, nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ việc đóng góp của các bên tham gia BHXH; đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng. Công tác thu BHXH đòi hỏi phải được thực hiện nhất quán, thống nhất có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn về tài chính, đảm bảo chính xác, do thường xuyên có biến động về mức đóng và số lượng người tham gia. Đặc điểm của công tác thu BHXH: Đặc điểm của công tác thu BHXH là hoạt động mang tính pháp lý, được quy định, hướng dẫn cụ thể về quy trình, mức đóng, đối tượng đóng, trách nhiệm, quyền lợi của các bên có liên quan; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan BHXH trong quản lý, xử lý vi phạm theo thẩm quyền.
Vị trí, vai trò của công tác thu: 1.1 Góp phần thực hiện mục tiêu “hướng tới BHXH cho mọi NLĐ”: BHXH là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước là trụ cột của chính sách ASXH, góp phần đảm bảo ổn định đời sống cho NLĐ, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc; là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già và tử tuất, trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.