Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế và quản lý thu thuế. “Chương 2: Thực trạng công tác quan lý thu thuế trên địa bàn huyện Đình Lập. Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế trên địa bản huyện Đình Lập. CHƯƠNG | SỞ LÝ LU.
VÀ THỰC TIEN VE THUẾ VÀ QUAN LY. Tổng quan về Thuế 1-11 Khái niệm, bản chất, chức năng L1-L1 Khái niệm “Thuế ra đồi là một sự tắt yếu mang tinh khách quan gắn in với sự ra đời, tồn ti và phát triển của Nhà nước. Để gọi tên được bản chất đích thực của thuế thi từ trước đến nay các nhà kinh tế học vẫn chưa có sự thống nhất trong việc định nghĩa khải niệm vé thuế. Bai lẽ các học giả chỉ mới nhìn nhận những quan diém về thuế từ các khia cạnh khác nhau của nó, vì thế chưa phản ánh toàn điện bản chất chung nhất của phạm trù.
này Xét trên mỗi phường điện thi sẽ có những nhận định riêng về thuế, Theo Benjamin Franklin đã đưa ra một ời tuyên bổ bắt hủ trong lich sử thu khoá: “Trong cuộc sống không có gì tắt yếu, ngoài cái chết và thuế”. Theo định nghĩa của nhà kỉnh tế học Gaston Jèze (1869-1963) người được xem là "giáo hoàng" về tài chỉnh công người Pháp đã đưa ra một khái niệm cổ didn nh và cũng nỗ tếng nhất về thuế, Ông cho ring: thuế là một khoản trích nộp bằng tin, ó tinh chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dan đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù ip những chỉ tiêu của Nhà nước. Củng với thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã được bỗ sung, chính sửa và hoàn thiện hon bởi hai tác giá người Anh Christopher Pass và Bryan Lower: *Thuế là một khoán trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bit dip những chỉ tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước”, Hiện nay, trên thực tế có rất nhiều cách hiễu khác nhau về thuế. Khải niệm cổ điển nhất và cũng nỗi tiếng nhất về thuế của nhà Kinh tế học Gaston Jeze được trình bày trong cuốn “Tai chính công” 46 là: “Th Tả một khoản trích nộp bằng tién, có tinh chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đồng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chỉ tiêu của Nhà mước trong việc thực hiện các chức năng kinh tê-xã hội của Nhà nước” [ HYPERLINK \ "Gas34" 1 1 Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: "Thuế là ình thức phân phối và phân phổi lại tổng sản phim xã hội và thu nhập quốc din nhằm hình thành nên quữ tién tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quÿ ngân sách nhà nước) dé dip ứng như cầu chỉ tiêu cho việc thực hiện các chúc năng, nhiềm vụ của “Nhà nước”1]).12 Bản chất của Thuế Từ khái niệm thuế nói trên ta có thé tìm hiểu bản chất của thuế được thé hiện bởi các.
thuộc tỉnh bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tinh đỏ có tinh dn định tương đối qua từng giải đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế và công cụ tài chính khác. Những đặc trưng đồ là = Tính bắt buộc. Tinh bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của NSNN.
Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được hình thành một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên mang tính chất bit buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thúc phân phối của Nhà nước, theo đó một bộ phận thu nhập của NNT được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cắp phát hoặc những. quyền lợi nào khác cho NNT. Tinh chất bất buộc của việc chuyển giao thu nhập bit nguồn từ những lý do sau: Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không sắn với lợi ích cụ thể của NNT, do dé không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển giao, Để đảm bảo nhu cầu chí tiêu công cộng Nhà nước tat yêu phải sử dụng quyền lực chính tj để bắt buộc các đối tượng có thu nhập phải chuyển giao.
hi-hat, trang một x hội văn mình nh cầu của các thành viên cộng đồng về hàng hoá công cộng ngảy cảng tăng mà phần lớn hàng hoá nay lại do Nhà nước cung cấp, Dé 6 cduy tì hoạt động cung cắp hàng hóa công cộng thi thu nhập vé hing hoá công cộng từ những người thụ hưởng phải bù đắp các chỉ phí bo ra, Nhưng hàng hoá công cộng lại có tinh chất đặc bit, nó không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng và người thy hưởng cũng không muốn sử dụng theo khẩu phần, Mặt khác, hing hoá công cộng không có tính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị trường để bù đắp. Chính vi vậy rong việc cung cấp hàng hóa công cộng đã xuất hiện những “người ăn khôn + nghĩa là không ai tự nguyện trả tiên cho việc thụ hướng hàng hóa công công. Do đó, đ dim bảo cung cấp hằng hoá công cộng Nhà nước chỉ có the sử ‘dung phương pháp thuế để buộc tắt cả mọi người, ké cả "người ăn không” phải chuyển giao thu nhập của mình sang khu vực i. “Tuy nhiền, tính bắt buộc của thu không có nội dung hình sự nghĩa à hành động dong thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khí có biểu hiện phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân.
Từ đặc trưng này, thuế không giống như các hình thức huy động tải chính khác của 'NSNN như phí, lệ phí, công tải, hoặc hình thức phạt bằng ền. Hình thức phí, I phi và công trái nói chung mang tinh tự nguyện và có tính chất đổi giá. Còn phạt tiễn cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt bing tiễn chỉ xây ra đổi với người nộp phạt khỉ 6 hành vỉ vi phạm luậtlệ làm phương hại dén li ich Nhà nước hoặc cộng đồng ~ Tính không hoàn trả trực tiếp “Tinh chất không hoàn trả trực tiếp của thu được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trì gián tiếp cho NNT thông qua các dich vụ công cộng của Nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế, Trước khi thủ thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho NNT.
Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tgp nảo cho NNT. Cũng như vậy, NNT không hŠ phân đối iệc thực hiện nghĩa vụ thuế với ý do họ không được hoje it được sử dụng các dịch vụ công cộng. NNT cũng không có quyển đòi hỏi được thừa hưởng nhiều dịch vụ công cộng hon so với số thuế mà họ phải trả và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chỉ trái với nguyễn tắc này Đặc điễm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thué với các khoản phí, lệ phí và tin dụng Nhà nước - Tính pháp lý cao "Đặc điềm này thể hiện thuế là mộtcông cụ tải chính có tính pháp lý cao. Diễu này được tị đại tị của Nhà nước.
Nhà nước là một tổ chức chín quyết định bởi quyỂnlục chính diện cho quyển lợi của giai cấp thống tị, thi hành các chính sách do giai cắp thẳng tỉ đặt ra để cai trị xã hội. Vì vậy, để bắt buộc các công dây "tự nguyệ nộp thuế thì Nha nước phải sử dụng đến quyển lực của mình. quyn lực ấy được thể hiện bằng luật pháp Nhà kinh tế học Joseph E.Stigliz nói rằng: "Việc chuyển giao bit buộc này giống như là {in trộm, chỉ có một điểm khác chủ yếu là: rong khi cả hai cách chuyển đều là không tự nguyện, thi cách chuyển qua Chính phủ có mang tắm áo choàng hợp pháp và sự tôn trọng do các qu trình chính trị ban cho”[ HYPERLINK \I "Jos95" 3 | ‘Tuy nhiên, để sự chuyển giao bắt buộc thông qua thuế diễn ra được "êm thắm”, mặc dù quá trình dé được thực hiện dưới sự bảo vệ của luật pháp, tỉ những qui định của pháp, luật cũng không được mang tính tùy tiện ma phải dựa trên những cơ sở khoa học nhất định. Vì vậy, trong Luật thuế thường xác định trước các yếu tổ cổ tính chất điều chính hành vi nộp thuế như: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những ch ti mang tinh cưỡng chế khác "ôm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thu đã phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế.
Từ những thuộc tính đó giúp ta phân biệt thuế với các hình thức. động viên khác của NSNN trên nhiều phương điện khác nhau.3 Chức năng của thuế Chức năng của một sự vật hay một đối tượng nào đó là sự thé hiện công dụng vốn có. Đối với một phạm trù kinh tế chức năng nỗ phản ánh bản chit sự ác động của nó, là một phương thức đặc bit biểu hiện những thuộc tính vin có của phạm trù. Cũng, như bản chất, chức năng cũng có tính ôn định tương đối trong suỗt thời gian tổn tại cũa sự vậthay đối tượng “Thuế không những là một phạm tra kinh Ê mà còn là phạm trả tải chỉnh.
Do đố, thuế Không chỉ mang trong mình những thuộc tính chung vẫn có của các quan hệ tài chính, mà còn biểu hiện những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng có bắt nguồn từ tổng thể các mồi quan hệ tải chính. Cho đến nay trên các sách báo kinh tế trong nước và trên thế giới cũng chưa có sự thông nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của thuế và tên gọi của chúng. Có tác giả đưa ra hai chức năng của thuế là chức năng ngân khố và chức năng kinh tế. Người khác lại cho rằng thuế có ba chức năng: ngân khổ, kiểm tra và phân phối thu nhập.
Với quan niệm như trên, soi roi vào quả trình ra đời, tổn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy thuế luôn thực hiện hai chức năng cơ bản: chức năng huy động ng lựctài chính cho Nhà nước và chức năng điều tiết kinh t.