CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Trong chương này, Luận văn sẽ đề cập đến ba nội dung chính, đó là cơ sở lý luận, trong đó làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến nội dung nghiên cứu; các quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến bảo hiểm và BHXHTN và những vấn đề lý luận liên quan đến thực hiện chính sách công và chính sách BHXHTN. Các khái niệm công cụ liên quan đến đề tài 1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của BHXHTN 1. Các khái niệm cơ bản Khái niệm ASXH Theo khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng: ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc. Bảo hiểm xã hội Theo khái niệm quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014): “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” [31].
BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước. Chính sách BHXH đã được thể chế hoá và thực hiện theo Luật BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả năng làm việc. Đối tượng tham gia BHXH bao gồm NLĐ và NSDLĐ. Tuy vậy, tuỳ 9 Luan van theo sự phát triển KT-XH của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó.
Dưới góc độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật, hoặc chết. BHXH có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và quá trình phát triển của mỗi nước, nhưng có hai loại hình cơ bản của BHXH là: BHXH theo hình thức bắt buộc và BHXH theo hình thức tự nguyện. BHXHBB là loại bảo hiểm được NSDLĐ và NLĐ có nghĩa vụ đóng góp vào quĩ BHXH. Còn BHXHTN là loại hình mà NLĐ tự nguyện tham gia.
Do vậy về bản chất, BHXHTN chính là một loại hình của BHXH nói chung, bởi vậy nó mang trong mình đầy đủ bản chất của BHXH. BHXH và BHXHTN BẢO HIỂM XÃ HỘI BẢO HIỂM BẢO HIỂM XÃ HỘI XÃ HỘI TỰ BẮT BUỘC NGUYỆN Nguồn: Tác giả nghiên cứu và tổng hợp Bảo hiểm xã hội tự nguyện Theo Luật số 71/2006/QH11, ngày 29/6/2006 của Quốc hội: Luật Bảo hiểm Xã hội, Khoản 3, Điều 3: “BHXHTN là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH” [29] Tại Khoản 3 Điều 3 Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014: “BHXHTN là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa 10 Luan van chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất”. [31] Trên cơ sở kế thừa các quan niệm về BHXHTN đã nêu trên, theo tác giả có thể tổng hợp và đưa ra khái niệm về BHXHTN như sau: BHXHTN là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động, đồng thời góp phần đảm bảo công bằng, tiến bộ, văn minh và ASXH.
Đặc điểm, nguyên tắc của BHXHTN Đặc điểm: BHXHTN với tư cách là tiểu hệ thống của hệ thống BHXH quốc gia, do đó có những đặc điểm chung của BHXH. Ngoài ra, BHXHTN có những đặc điểm cơ bản như: BHXHTN cũng như BHXH, dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia trên tinh thần tự nguyện và bao trùm bởi một hệ thống được quy định mà các mức đóng góp tạo nên một quỹ chung. Nguồn quỹ được hình thành từ các mức đóng góp của người tham gia, trong đó chủ yếu là người lao động, với một phần hỗ trợ của nhà nước. Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXHTN khi chưa tham gia BHXHBB và quyền được hưởng BHXH khi phát sinh các nhu cầu được BHXH.
BHXHTN phải dựa trên sự đóng góp tự nguyện của người tham gia bảo hiểm để hình thành nguồn quỹ BHXHTN. Nhà nước có trách nhiệm phải BHXH đối với người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự BHXH cho mình. San sẻ rủi ro theo quy luật số lớn. Kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu BHXHTN Nguyên tắc 6.
Bảo đảm tính thống nhất BHXHTN trên phạm vi cả nước, đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành. 11 Luan van Nguyên tắc 7. Phát triển, mở rộng BHXHTN phải phù hợp với điều kiện KT- XH trong từng giai đoạn phát triển và phù hợp với khả năng tham gia của số đông người lao động. Khái niệm, mục đích và vai trò của chính sách BHXHTN 1.
Khái niệm chính sách BHXHTN Từ nội dung của Chính sách công là thể hiện cụ thể của những chủ trương, quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển KT-XH của đất nước. Từ những căn cứ trên, dưới góc độ khoa học chính sách công, khái niệm về chính sách BHXHTN có thể đưa ra như sau: “Chính sách BHXHTN là tổng hợp các chủ trương, quan điểm, quyết định có liên quan của Nhà nước về hoạt động BHXHTN với mục tiêu, giải pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội, quyền và lợi ích của người dân khi tham gia BHXHTN”. Mục đích chính sách BHXHTN BHXHTN là chính sách ASXH của Đảng và Nhà nước, do nhà nước tổ chức thực hiện; được nhà nước bảo hộ, hỗ trợ mức đóng, cấp miễn phí thẻ BHYT; không vì lợi nhuận, không bao giờ bị vỡ quỹ và mục đích duy nhất là vì cuộc sống của người dân. Thứ nhất, góp phần xây dựng hệ thống ASXH ngày càng vững mạnh đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội.
Giảm thiểu cho ngân sách nhà nước một khoản tiền nhất định để hỗ trợ cho người có thu nhập thấp hàng năm khi họ về già, họ vẫn có thu nhập để đảm bảo cuộc sống. Thứ hai, giúp cho những người lao động làm nghề tự do có thể tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH đem lại cho người lao động có thể nhận lương hưu hàng tháng khi về già. Thứ ba, tạo điều kiện cho người lao động chưa đủ điều kiện nhận lương hưu hàng tháng có thể tiếp tục tham gia BHXHTN cho đủ điều kiện để hưởng lương hưu hàng tháng. Vai trò chính sách BHXHTN BHXH nói chung, trong đó có BHXHTN là trụ cột của hệ thống ASXH, việc thực hiện hiệu quả pháp luật về BHXHTN đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách pháp luật về xã hội.
Vì vậy, định hướng tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chính sách BHXHTN có vai trò quan trọng, cấp thiết trong việc góp phần làm cho xã hội ổn định. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản 12 Luan van Việt Nam lần thứ XI, khẳng định: “Bảo đảm ASXH, tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống BHXH, BHYT, BHTN trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong cuộc sống” [20]. Ở Việt Nam chính sách BHXH, trong đó BHXHTN là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, giúp nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách KT-XH trên phương diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và ổn định xã hội. Trong hoạt động BHXH nhà nước tiến hành xây dựng nhiều chính sách, chế độ, tổ chức triển khai, giám sát, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXHTN mà không phải chính từ NSNN cho lĩnh vực này.
Yêu cầu hiện nay đang đặt ra đối với các nhà hoạch định và thực thi chính sách BHXH Việt Nam là cần sớm có những giải pháp cụ thể và đồng bộ; sửa đổi bổ sung chính sách, pháp luật về BHXH, nhằm khắc phục những vướng mắc, những khó khăn, tồn tại; tiếp tục củng cố, hoàn thiện, đổi mới cơ chế, chính sách về BHXH nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống ASXH phù hợp với nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế trong tình hình mới. BHXHTN là một nhu cầu khách quan trong xã hội hiện đại. Vai trò của thực hiện pháp luật BHXHTN trong hệ thống chính sách và pháp luật về xã hội được thể hiện ở những nội dung sau: - Thực hiện tốt pháp luật BHXHTN góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động. Với hình thức đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất và hưởng chế độ hưu trí khi về già, đây là một bước tiến lớn trong thực hiện chính sách an sinh xã hội, không chỉ tham gia vào các quan hệ lao động chính thức mới được đóng BHXH mà lao động ở khu vực PCT cũng được tham gia hưởng lương hưu khi hết tuổi lao động.