Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra của bảo hiểm xã hội Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra của Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm hoạt động kiểm tra của Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 7 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Một số vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra 1. Khái niệm về kiểm tra Kiểm tra là một trong các chức năng của quy trình quản lý. Đồng thời, đó là một trong những công việc thường xuyên, quan trọng của bất cứ nhà quản lý nào.
Thông qua chức năng kiểm tra mà chủ thể quản lý nắm bắt và điều chỉnh kịp thời các hoạt động của đối tượng quản lý nhằm thực hiện tốt các mục tiêu của tổ chức đã xác lập. Hiện nay, Nhà nước ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật có định nghĩa cụ thể về kiểm tra nhưng trên phương diện lý luận thực tiễn thì kiểm tra là khái niệm rộng thể hiện ở nhiều góc độ như: Theo Từ điển tiếng pháp luật Anh-Việt thì kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”[54]. Từ khái niệm này có thể hiểu kiểm tra là những hành vi nhằm mục đích xem xét về mặt thực chất và thực tế theo yêu cầu của chủ thể kiểm tra và để chỉ hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc). Thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol định nghĩa kiểm tra như sau: “ Kiểm tra là nắm vững tình hình tiến triển của công việc, sự phù hợp của nó so với kế hoạch đã định nhằm phát hiện những khiếm khuyết trong công việc, áp dụng các biện pháp điều chỉnh cần thiết, sửa chữa khuyết điểm để đảm bảo thực hiện thuận lợi mục tiêu đề ra”[37].
Theo Harol Koontz: “Kiểm tra là đo lường và chấn chỉnh hoạt động các bộ phận cấp dưới để tin chắc rằng các mục tiêu và kế hoạch thực hiện mực tiêu đó đã đang được hoàn thành”[23]. Theo Nguyễn Hữu Luận (Khoa Nhà nước và Pháp luật-Học viện Hành chính Quốc gia), kiểm tra là một khái niệm rộng, được thể hiện ở nhiều góc độ: 8 Luan van + Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình. Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn. Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn.
+ Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện. Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc, vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như: biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm pháp luật. + Kiểm tra là hoạt động của các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng tham gia hoạt động giám sát công việc hành chính nhà nước. Trong trường hợp này, kiểm tra hầu như không mang tính quyền lực nhà nước; không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ tác động đến hoạt động quản lý nhà nước bằng những biện pháp mang tính xã hội [58].
Từ các khái niệm trên chúng ta thấy rằng kiểm tra bao gồm các yếu tố sau: - Chủ thể kiểm tra: đây là tác nhân tạo ra các tác động kiểm tra, bao gồm cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền trong tổ chức - Đối tượng kiểm tra: đây là các thực thể tiếp nhận tác động từ chủ thể kiểm tra. Đối tượng kiểm tra có thể là cá nhân hoặc tổ chức có trách nhiệm thực thi công việc, nhiệm vụ trong tổ chức. - Khách thể kiểm tra: là những hoạt động, hành vi của đối tượng kiểm tra. - Mục tiêu kiểm tra: là sự nhận định, đánh giá, xử lý trong hoạt động, hành vi của đối tượng kiểm tra.
Từ những nội dung trên, ta có thể hiểu khái niệm kiểm tra như sau: “Kiểm tra là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tiến hành xem xét, đánh giá, xử lý hoạt động 9 Luan van của đối tượng quản lý trên cơ sở phù hợp hay không phù hợp với trạng thái định trước” Kiểm tra vốn là một chức năng quản lý, một chu trình quản lý, do vậy mọi chủ thể quản lý của tổ chức trong quá trình hoạt động đều phải tiến hành kiểm tra ở một mức độ nhất định. Chủ thể kiểm tra thuộc các cấp bậc khác nhau trong tổ chức thì quy mô, tính chất và nội dung kiểm tra sẽ khác nhau. Việc tiến hành kiểm tra một cách tích cực sẽ giúp cho các hoạt động của tổ chức làm đúng theo những chuẩn mực, quy tắc và quy định của tổ chức. Chính vì vậy, kiểm tra là phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình quản lý.
Kiểm tra là một chức năng cuối cùng của quá trình quản lý: kế hoạch, tổ chức, nhân sự, lãnh đạo và kiểm tra (hay kiểm soát)[37]. Kiểm tra không phải là chức năng thứ yếu mà ngược lại là một chức năng quan trọng, nó có ý nghĩa to lớn trong quá trình quản lý. Do vậy, trong quá trình kiểm tra cần phải công khai, minh bạch để đảm bảo các kế hoạch được thực hiện đầy đủ, đúng tiến độ nhằm đáp ứng hoặc vượt các mục tiêu đã định. Đặc điểm hoạt động kiểm tra Thứ nhất, kiểm tra là một quá trình trong hoạt động quản lý.
Quản lý là một quá trình nhằm hướng tổ chức tới mục tiêu định trước. Quá trình quản lý bao gồm các chức năng: Kế hoạch; tổ chức; nhân sự; lãnh đạo; kiểm tra[37]. Kiểm tra là một chức năng trong hoạt động quản lý nhằm hướng đến mục tiêu chung. Do vậy, đây là một quá trình trong hoạt động quản lý của tổ chức nhằm đảm bảo cho tổ chức đạt được mục tiêu đã xác định Thứ hai, tính thường xuyên, liên tục.
Hoạt động quản lý trong tổ chức được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm đạt tới mục tiêu của tổ chức. Do vậy, để đảm bảo được điều này thì mọi chức năng trong quá trình quản lý phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Chính vì vậy, đây c ng chính là đặc điểm thường xuyên liên tục của hoạt động kiểm tra, trong đó bao gồm hoạt động kiểm tra của chủ thể kiểm tra và quá trình tự kiểm tra của đối tượng kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu chung. 10 Luan van Thứ ba, tính độc lập khách quan.
Hoạt động kiểm tra tuy là một chức năng của quản lý, tuy nhiên trong quá trình kiểm tra đồi hỏi phải có tính độc lập khách quan so với các chức năng khác nhằm điều chỉnh chính xác những sai lệch trong quá trình thực hiện tránh ảnh hưởng đến mục tiêu chung của tổ chức. Thứ tư, tính toàn diện, hệ thống. Hoạt động kiểm tra bao quát tất cả mọi hoạt động chủ yếu của tổ chức, đây không phải đơn thuần kiểm tra từng chức năng riêng lẻ. Kiểm tra bao gồm một chuỗi những hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý các tiêu chí theo một trình tự nhất định, bao quát toàn bộ môi trường hệ thống của tổ chức.
Kết quả kiểm tra nhằm chỉ ra những nhận định, đánh giá, xử lý và có những cải tiến cần thiết nhất. Chúng được thể hiện thành một kế hoạch các biện pháp chấn chỉnh trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn nhằm để nâng cao hiệu quả chung của tổ chức. Vai trò của kiểm tra trong thực hiện pháp luật Hoạt động quản lý Nhà nước là hoạt động ban hành văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật. Kiểm tra là một chức năng của quản lý Nhà nước, do vậy kiểm tra có vai trò quan trọng trong thực hiện pháp luật.
Thứ nhất, kiểm tra là phương thức bảo đảm pháp chế. Hành vi vi phạm pháp luật đã, đang và vẫn còn là một thực tế với nhiều hình thức, phạm vi và lý do khác nhau. Thông qua hoạt động kiểm tra, chủ thể kiểm tra đánh giá được đối tượng kiểm tra trong việc thực hiện, chấp hành pháp luật có vi phạm pháp luật hay không, vi phạm ở mức độ nào. Từ đó đề ra những biện pháp xử lý thích hợp[8].
Do vậy, kiểm tra là một phương thức bảo đảm pháp chế. Nguyên tắc pháp chế là việc chấp hành pháp luật cả từ phía các cơ quan Nhà nước và từ phía các cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước. Một mặt, Các cơ quan Nhà nước tuân thủ pháp luật thể hiện ở việc các cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà pháp luật đã quy định. Mặt khác, các đối tượng quản lý, mọi công dân, cá nhân, tổ chức trong mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội đều phải thực hiện theo các quy định của pháp luật.
Với tư cách là một chức năng của quản lý Nhà nước, kiểm tra chính là hoạt động xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức cá nhân có đúng chính sách, pháp luật 11 Luan van hay không. Nếu đối tượng làm sai hoặc làm chậm thì giúp đối tượng đó sửa chữa và làm cho đúng. Mục đích của kiểm tra là phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý những vi phạm, bảo đảm để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành một cách chính xác, đầy đủ và nghiêm chỉnh pháp luật Nhà nước. Thứ hai, kiểm tra là một biện pháp ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật.
Kiểm tra là hoạt động phân tích, mổ xẻ một cách sâu sắc, đầy đủ nhất các nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ của một hành vi vi phạm pháp luật[36].