Chương 1: Cơ sở lý luận chung về bảo hiểm xã hội và công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Sơn La. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa ban tinh Sơn La. CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE BẢO HIẾM XÃ HỘI VÀ CÔNG TAC QUAN LY THU BẢO HIẾM XÃ HỘI 1.
Tổng quan về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm, bản chất của BHXH 1. Khái nệm BHXH BHXH được coi là trụ cột của hệ thống ASXH ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở mỗi quốc gia lại đưa một khái niệm khác nhau về BHXH dựa trên những đăc diém chung.
Khái niệm BHXH được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: “BHXH là sự đảm bdo thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập cho NLD và gia đình họ khi NLD tham gia BHXH bị giảm hoặc mat thu nhập từ lao động do các sự kiện bảo hiểm xảy ra và trợ giúp các dich vụ việc làm, chăm sóc y tế cho họ trên cơ sở quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp, nhằm on định đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đảm bảo BHYT”. (Khái niệm chung về An sinh xã hội theo tổ chức Lao động quốc tế ILO, 1952) Theo nghĩa hẹp: “BHXH là sự đảm bảo thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập cho NLP và gia đình họ từ quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp khi NLD tham gia BHXH bị giảm hoặc mắt thu nhập từ lao động do các sự kiện bảo hiểm xảy ra, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho gia đình NLD và dam bảo BHYT.” Ở Việt Nam, khái niệm BHXH được hiểu theo nghĩa hẹp này và được nêu trong Khoản 1, Điều 3, Luật BHXH được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2006: “BHXH là sự bảo đảm thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập của NLD khi họ bị giảm hoặc mat thu nhập do 6m dau, thai sản, TNLD - BNN, thất nghiép, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. ” Như vậy, các khái nệm BHXH tuy được hiểu từ những góc độ khác nhau nhưng đều xem xét BHXH là hình thức bảo hiểm mang tính xã hội, chủ yêu nhằm mục đích dam bao thu nhập cho NLD và an toàn xã hội. Đối tượng của BHXH chính là phan thu nhập của NLD bị giảm hoặc mất đi do giảm hoặc mat khả năng lao động, mất việc làm.
Bản chất của BHXH BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. 4 BHXH vừa dé thực hiện các mục dich xã hội, vừa dé thực hiện các mục đích kinh tế trong mỗi cộng đồng, quốc gia. Trong đó, mục đích kinh tế và mục đích xã hội luôn được thực hiện đồng thời, đan xen lẫn nhau, là hai mặt không thé tách rời của BHXH.
Khi đề cập đến các lợi ích kinh tế của BHXH đối với NLD và đối với xã hội là đã bao hàm cả mục đích xã hội của nó. Ngược lại, các mục đích xã hội của BHXH cũng chỉ đạt được khi nó đồng thời mang lại các lợi ích kinh tế thiết thực cho người tham gia. vẻ phương điện xã hội: BHXH là sự chia sẻ rủi ro, bảo đảm an toàn xã hội. Về phương diện kinh tế: BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiém thông qua quá trình hình thành một quỹ tiền tệ chuyên dùng dé đáp ứng nhu cau chỉ trả bảo hiểm cho NLD và gia đình họ khi gặp rủi ro về thu nhập trong lao động sản xuất hoặc mất nguén nuôi dưỡng.
Về phương diện chính trị, pháp lý: khi được Nhà nước đều chỉnh bằng pháp luật, BHXH đã trở thành quyền cơ bản của NLD, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế. Đồng thời, đó cũng là trách nhiệm của NLĐ và người SDLĐ phải tham gia BHXH. Vì vậy, BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là bộ phận cơ bản để đảm bảo BHYT của các quốc gia. Vai rò của BHXH Thứ nhất, BHXH góp phân trợ giúp người lao động gặp rủi ro (ốm đau, TNLĐ-BNN, that nghiệp.) sớm trở lại trang thái sức khỏe ban dau cũng như sớm có việc làm trở lại.
Theo quy định của BHXH thì NLD khi có việc làm sẽ đóng gop một phan tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng. Quỹ này hỗ trợ NLĐ khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc về già dé duy trì và ồn định cuộc sống của NLD và gia đình họ. Do vậy, hoạt động BHXH, một mặt, doi hoi tính trách nhiệm cao của từng NLĐ đối với bản thân mình, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thé hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thé chế chính trị - xã hội bền vững. Người SDLĐ cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH cho NLD.
Nếu theo nhìn nhận ban dau, việc đóng góp BHXH cho NLD có thé sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng thực chat, về lâu dài, việc tham gia BHXH đã chuyền giao trách nhiệm bảo vệ NLĐ khi gặp rủi ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên phạm vi toàn xã hội, giúp cho người SDLĐ bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của doanh nghiệp, yên tâm tô chức sản xuất kinh doanh. Trong hoạt động BHXH, Nhà nước tiến hành xây dựng chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhăm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH. Như vậy Nhà nước giữ vai trò quản lý về BHXH, bảo hộ cho quỹ BHXH mà không phải chi từ NSNN cho lĩnh vực nay.
Mặt khác, chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng của hệ thong chính sách an sinh xã hội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và xã hội trên phương diện vi mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và giữ gìn ôn định xã hội trong từng thời kỳ cũng như trong suốt quá trình phát trién. Thứ hai, BHXH góp phan ổn định cuộc sống của NLD khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động. Theo quy định của Luật BHXH, NLD tham gia đóng BHXH từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hằng thang. Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập ôn định, bao đảm cuộc sống sinh hoạt hằng ngày.
Trong nhiều năm qua, kế từ khi chính sách BHXH được thực hiện, cùng với sự phát triển kinh tế, mức lương hưu cũng không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội. Vào các thời điểm tăng mức lương tối thiêu chung cũng như việc xem xét chỉ số giả cả, Nhà nước đều có sự điều chỉnh lương hưu một cách hợp lý. Mức lương hưu không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung toàn xã hội tại thời điểm hưởng lương hưu đã bảo đảm cuộc sông của người nghỉ hưu, tạo sự an tâm, tin tưởng của người về hưu sau cả cuộc đời lao động. Tương tự như vậy, các quyền lợi về BHYT, về chế độ 6m đau, chế độ TNLĐ-BNN: mức trợ cấp tuất một lần.
cũng được cải thiện rõ rệt. Sở dĩ có được điều kiện nâng cao và mở rộng các quyền lợi của BHXH là do phương thức tài chính được hình thành theo cách lập quỹ và có sự tính toán điều chỉnh quan hệ đóng - hưởng trong phạm vi toàn xã hội theo những dự báo về các yếu tô kinh tế - xã hội trong tương lai. Theo phương thức lập quỹ, người lao động, trước hết phải có trách nhiệm với bản thân trong việc đóng góp lập quỹ BHXH. Mặt khác, với việc lập quỹ BHXH đã gắn kết được trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp trong cùng chính sách BHXH.
Vì vậy, nguồn quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ và phát triển cân đối bền vững sẽ là cơ sở dé cải thiện không ngừng các chế độ BHXH nói chung và đời sông của người nghỉ hưu nói riêng. Thứ ba, BHXH góp phan on định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm sự bình dang về vị thé xã hội của NLD trong các thành phan kinh tế, thúc day sản xuất phát triển. Chính sách BHXH hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng - hưởng” đã tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đắng của NLĐ về chính sách BHXH. Khi đó, moi NLD làm việc ở các thành phan kinh tế, các ngành nghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chính sách BHXH.
Phạm vi đối tượng tham gia BHXH không ngừng được mở rộng đã thu hút hàng triệu NLD làm việc trong các thành phan kinh tế khác nhau, khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi BHXH, tạo sự an tâm, tin tưởng và yên tâm lao động, sản xuất kinh doanh. NLD tham gia BHXH khi 6m đau sẽ được khám chữa bệnh va được quỹ BHYT chi trả phần lớn chi phí; được nhận tiền trợ cấp khi ốm đau không đi làm được, được nghỉ chăm con ốm; khi thai sản được nghỉ khám thai, được nghỉ khi sinh đẻ và nuôi con, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợ cấp thai sản; khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được nhận phần trợ cấp do giảm khả năng lao động do TNLD - BNN gây ra. Ngoài ra, NLD còn được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật nhằm nâng cao thể lực. Khi NLD mắt việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc làm hoặc gửi đi học nghề đề có cơ hội tìm kiếm việc làm mới.
Với những quyền lợi của NLD khi tham gia BHXH đã góp phan thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, giữ gìn và nâng cao thé lực cho NLD trong suốt quá trình lao động, sản xuất.