Luận án: Hoàn thiện cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam

Phân tích vai trò của việc hoàn thiện dự toán chi ngân sách nhà nước trong việc gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Tài liệu cung cấp

Trường đại học

Học Viện Tài Chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2013

217
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước

Cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là chủ đề nghiên cứu trọng tâm trong quản lý tài chính công. Dự toán ngân sách nhà nước là công cụ tài chính quan trọng, phản ánh quy mô và cơ cấu chi tiêu công trong một năm ngân sách. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu về tăng trưởng, đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu. Hai phạm trù này có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là cơ sở, tiền đề quyết định cho việc lập dự toán ngân sách. Ngược lại, dự toán ngân sách tác động tích cực đến việc xác định mục tiêu, chỉ tiêu và biện pháp thực hiện kế hoạch. Phương thức lập kế hoạch bao gồm mô hình tăng trưởng tổng quát, bảng cân đối liên ngành và phương pháp đánh giá dự án. Phương thức lập dự toán gồm theo khoản mục, theo công việc, theo chương trình và theo kết quả đầu ra. Việc gắn kết hai quá trình này đảm bảo hiệu quả phân bổ nguồn lực công, phục vụ phát triển bền vững nền kinh tế quốc dân.

1.1. Khái niệm và yêu cầu lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

Lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là quá trình xây dựng các mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp phát triển trong trung hạn và dài hạn. Kế hoạch phải đảm bảo tính hệ thống, cân đối và khả thi. Yêu cầu cơ bản bao gồm xác định đúng đắn mục tiêu tăng trưởng, cân đối cung cầu hàng hóa dịch vụ, phân bổ nguồn lực hợp lý giữa các ngành và vùng kinh tế. Phương thức lập kế hoạch hiện đại sử dụng bảng cân đối liên ngành Leontief, cho phép tính toán nhu cầu nguyên liệu trung gian, lao động và vốn đầu tư cho từng ngành. Công cụ này giúp xây dựng kế hoạch kinh tế toàn diện, đảm bảo tính nhất quán giữa các chỉ tiêu sản xuất và nguồn lực cần thiết.

1.2. Khái niệm và phương thức lập dự toán ngân sách nhà nước

Dự toán ngân sách nhà nước là văn bản pháp lý quy định quy mô thu chi ngân sách trong năm ngân sách. Lập dự toán ngân sách đòi hỏi tính chính xác, khả thi và phù hợp với điều kiện kinh tế thực tế. Phương thức lập dự toán truyền thống theo khoản mục phân loại chi tiêu theo mục lục ngân sách. Phương thức theo công việc tập trung vào chi phí thực hiện từng nhiệm vụ cụ thể. Phương thức theo chương trình gắn chi tiêu với mục tiêu chính sách. Phương thức theo kết quả đầu ra đánh giá hiệu quả chi tiêu dựa trên sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho người dân.

II. Phân tích thực trạng lập dự toán chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam

Thực trạng cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam thời gian qua bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục. Phương pháp lập dự toán truyền thống theo mức chi năm trước vẫn chiếm ưu thế, dẫn đến tình trạng chi ngân sách chưa gắn chặt với mục tiêu phát triển. Cơ chế lập dự toán hàng năm thiếu tính chiến lược, dễ gây ra lãng phí và phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Việt Nam đã thí điểm xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn và kế hoạch chi tiêu trung hạn ở tầm quốc gia cũng như tại một số bộ, địa phương. Kết quả thí điểm cho thấy nhiều tiến bộ trong việc nâng cao tính dự báo và gắn kết chi tiêu với ưu tiên phát triển. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn gặp khó khăn về dữ liệu, năng lực cán bộ và sự phối hợp giữa các cấp quản lý. Chất lượng dự báo thu ngân sách còn thấp, chưa phản ánh đầy đủ biến động kinh tế. Mối liên kết giữa kế hoạch trung hạn và dự toán hàng năm chưa thực sự chặt chẽ, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài chính công.

2.1. Thực trạng lập dự toán theo phương pháp truyền thống

Phương pháp lập dự toán truyền thống ở Việt Nam chủ yếu dựa trên mức chi năm trước, điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng. Cách tiếp cận này đơn giản nhưng thiếu cơ sở phân tích kinh tế vững chắc. Dự toán chi thường xuyên tăng nhanh, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách. Chi đầu tư phát triển phân bổ dàn trải, chưa tập trung vào các dự án trọng điểm. Sự gắn kết giữa dự toán chi và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội còn lỏng lẻo. Nhiều khoản chi không phục vụ trực tiếp mục tiêu kế hoạch đã đề ra, giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công.

2.2. Thực trạng thí điểm lập dự toán theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn

Việt Nam triển khai thí điểm kế hoạch tài chính trung hạn và kế hoạch chi tiêu trung hạn nhằm nâng cao chất lượng lập dự toán ngân sách. Khuôn khổ chi tiêu trung hạn giúp dự báo nguồn thu và xác định trần chi tiêu cho ba năm liên tiếp. Tại tầm quốc gia, Bộ Tài chính chủ trì xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn trình Quốc hội. Một số bộ và địa phương thí điểm xây dựng kế hoạch chi tiêu trung hạn gắn với chiến lược phát triển ngành và vùng. Kết quả ban đầu cho thấy cải thiện khả năng dự báo và tính minh bạch ngân sách. Tuy nhiên, năng lực phân tích, dữ liệu thống kê và sự phối hợp liên ngành vẫn là những rào cản lớn.

III. Giải pháp hoàn thiện cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước

Hoàn thiện cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Trước tiên, cần chuyển đổi mạnh mẽ từ phương pháp lập dự toán truyền thống sang khuôn khổ chi tiêu trung hạn. Khuôn khổ này giúp gắn kết chi tiêu hàng năm với chiến lược phát triển dài hạn, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Thứ hai, cải thiện chất lượng dự báo thu ngân sách thông qua ứng dụng mô hình kinh tế lượng và hệ thống dữ liệu hiện đại. Thứ ba, tăng cường năng lực cán bộ tài chính các cấp, đặc biệt ở địa phương. Thứ tư, hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý ngân sách, đảm bảo dữ liệu minh bạch và cập nhật. Thứ năm, đổi mới cơ chế phân cấp ngân sách, gắn trách nhiệm giải trình với kết quả thực hiện kế hoạch. Cuối cùng, cần xây dựng hệ thống giám sát đánh giá hiệu quả chi tiêu, sử dụng chỉ tiêu đầu ra và kết quả phát triển làm thước đo. Các giải pháp phải được triển khai đồng thời, có lộ trình phù hợp với điều kiện quản lý tài chính công tại Việt Nam.

3.1. Xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn gắn với kế hoạch phát triển

Khuôn khổ chi tiêu trung hạn là công cụ quản lý tài chính công hiện đại, được nhiều nước áp dụng thành công. Tại Việt Nam, khuôn khổ này cần được xây dựng dựa trên chiến lược phát triển kinh tế xã hội trung hạn và các chương trình mục tiêu quốc gia. Trần chi tiêu trung hạn phải phù hợp với dự báo thu ngân sách và khả năng huy động nguồn lực. Việc lập kế hoạch chi tiêu trung hạn giúp các bộ, ngành chủ động trong phân bổ nguồn lực, tránh tình trạng dàn trải và lãng phí. Đồng thời, khuôn khổ này tạo cơ sở để đánh giá hiệu quả chi tiêu ngân sách một cách hệ thống và toàn diện.

3.2. Nâng cao năng lực dự báo và hệ thống thông tin ngân sách

Chất lượng dự báo thu chi ngân sách phụ thuộc lớn vào năng lực phân tích dữ liệu và hệ thống thông tin. Việt Nam cần đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia tập trung, kết nối liên thông giữa trung ương và địa phương. Ứng dụng mô hình kinh tế lượng giúp dự báo sát thực tế biến động kinh tế, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách. Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ tài chính, đặc biệt về phân tích chính sách tài khóa và dự báo kinh tế vĩ mô. Hệ thống thông tin hiện đại hỗ trợ ra quyết định kịp thời, tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý ngân sách nhà nước.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam

Nghiên cứu về cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội mang lại nhiều hàm ý chính sách quan trọng. Kết luận chính cho thấy mối quan hệ hữu cơ giữa dự toán ngân sách và kế hoạch phát triển cần được thể chế hóa bằng văn bản pháp luật rõ ràng. Phương pháp lập dự toán theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn vượt trội hơn hẳn so với phương pháp truyền thống. Ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam đòi hỏi lộ trình chuyển đổi phù hợp, bắt đầu từ trung ương rồi mở rộng đến địa phương. Các đề xuất chính sách bao gồm hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường năng lực thể chế và đầu tư hạ tầng thông tin. Nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò quan trọng của bảng cân đối liên ngành trong việc lập kế hoạch phát triển toàn diện. Thành công của quá trình cải cách phụ thuộc vào sự cam kết chính trị và phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Đây là hướng nghiên cứu tiếp tục cần được đào sâu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

4.1. Hàm ý chính sách cho công tác lập dự toán ngân sách

Nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách quan trọng. Cần luật hóa khuôn khổ chi tiêu trung hạn trong Luật Ngân sách nhà nước, tạo cơ sở pháp lý vững chắc. Ban hành quy trình lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội song song với xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn. Đổi mới cơ chế phân cấp ngân sách, gắn quyền hạn với trách nhiệm giải trình ở từng cấp quản lý. Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả chi tiêu dựa trên kết quả đầu ra thay vì đầu vào. Tăng cường vai trò của cơ quan kiểm toán trong giám sát việc thực hiện dự toán ngân sách gắn với kế hoạch phát triển.

4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo và triển vọng áp dụng

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào đánh giá tác động của khuôn khổ chi tiêu trung hạn đối với hiệu quả quản lý tài chính công. Nghiên cứu so sánh kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt các nước OECD, để rút ra bài học cho Việt Nam. Ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong dự báo thu chi ngân sách là hướng đi đầy triển vọng. Xây dựng mô hình mô phỏng tác động chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế xã hội. Nghiên cứu cũng cần mở rộng phạm vi đến cấp tỉnh, thành phố nhằm đảm bảo tính toàn diện và khả thi trong triển khai thực tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CƠ CHẾ LẬP DỰ TOÁN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC GẮN VỚI KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Để có thể nghiên cứu thiết lập cơ chế gắn kết giữa lập dự toán chi NSNN với KH phát triển KTXH, điều quan trọng là phải hiểu rõ những vấn đề mang tính lý thuyết về KH phát triển KTXH và xây dựng dự toán NSNN trong nền kinh tế thị trường. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Khái niệm, yêu cầu lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống kế hoạch là sản phẩm chủ quan của Nhà nước, Nhà nước dựa vào sự vận động khách quan của tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước đặt ra các mục tiêu, đưa ra các định hướng, thiết lập các chỉ tiêu phấn đấu, nghiên cứu đề ra các giải pháp thực hiện nhằm điều chỉnh sự vận động của tình hình kinh tế - xã hội để đạt được mục đích mong muốn. Đó là quá trình hoạt động xây dựng hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là kết quả chủ quan của Nhà nước trước sự vận động khách quan của các quy luật của kinh tế thị trường, hệ thống này hướng tới sự vận động của các quy luật của kinh tế thị trường, tạo ra sự phân bổ nguồn lực hiệu quả, có lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ở nước ta, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN có không ít quan niệm cho rằng đã phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường thì công cụ kế hoạch sẽ không có đất dung thân, đó là một quan niệm sai lầm. Lý luận cũng như thực tiễn đã minh chứng rằng càng phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường càng phải coi trọng công 7 tác kế hoạch. Trong nền kinh tế thị trường phải coi trọng công cụ kế hoạch bắt nguồn từ những lý do chủ yếu sau đây: - Do sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển Phân công lao động ngày càng phát triển là điều kiện tiền đề khách quan của công tác kế hoạch trong mọi nền kinh tế dù là nền kinh tế chỉ huy hay nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường.

Hệ thống phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, chuyên môn hóa ngày càng sâu, gắn với nó là sự hợp tác giữa các ngành sản xuất với nhau, sự tích tụ sản xuất ngày càng tăng, tác động tới toàn bộ quá trình phát triển KTXH. Những điều kiện đó tạo ra sự cần thiết khách quan cho sự can thiệp của Nhà nước điều tiết quá trình sản xuất. Nhà nước điều tiết, quản lý quá trình sản xuất xã hội bằng nhiều phương thức, công cụ khác nhau, trong đó kế hoạch hóa là một trong phương thức, công cụ quan trọng. - Do có sự thất bại của thị trường Nghiên cứu về thị trường và cơ chế thị trường của các nhà kinh tế, mà đại diện tiêu biểu là John Maynard Keynes, gần đây là nhà kinh tế học Joseph Stiglitz đã ủng hộ lý thuyết “vỗ tay bằng hai bàn tay”, Nhà nước cần can thiệp vào nền kinh tế với những công cụ và cách thức cho phù hợp với từng thời kỳ, đều chỉ ra rằng: Ở hầu hết các nước áp dụng cơ chế thị trường trong điều hành kinh tế đều thống nhất cho rằng việc vận hành cơ chế thị trường hướng tới phát triển nền kinh tế vừa có những mặt ưu điểm nhưng cũng còn nhiều tiêu cực hạn chế.

Về ưu điểm: (i) Thị trường phân bổ một cách có hiệu quả những nguồn lực khan hiếm cho các mục tiêu có thể thay thế cho nhau; (ii) Thị trường tạo ra sự kích thích phát triển kinh tế. Người tiêu dùng cố gắng tìm cách tăng thu nhập để có hàng hóa nhiều hơn. Nhà đầu tư và những nhà sáng chế có lợi nhờ thị trường; (iii) Cơ chế thị trường bao giờ cũng có tính linh hoạt, gọn nhẹ, cơ động hơn cơ chế kế hoạch hóa. Tuy nhiên, cơ chế thị trường không phải là một loại thần dược chữa trị bách bệnh, cơ chế thị trường không phải là cây đũa thần quản lý được mọi hoạt động, bản thân cơ chế thị trường 8 cũng chứa đựng nhiều khuyết tật vốn có của nó.

Cụ thể: (i) về mặt xã hội phát sinh sự phân cực giàu nghèo một cách rõ rệt dẫn đến những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội; (ii) về khía cạnh kinh tế sự phân bổ nguồn lực dựa vào cơ chế thị trường không phải lúc nào cũng tiết kiệm, đạt hiệu quả cao trong sử dụng nguồn lực khan hiếm do động cơ chạy theo lợi nhuận đơn thuần dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, phí phạm tài nguyên của đất nước, phát triển thiếu bền vững. Do đó, để bảo đảm cho việc phân phối một cách công bằng theo chuẩn mực của xã hội và bảo đảm phát triển nền kinh tế một cách cân đối bền vững, hạn chế sự lãng phí nguồn lực, cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước. Nhà nước can thiệp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo nhiều cách và công cụ khác nhau, một trong những phương thức và công cụ đó là kế hoạch hóa. Kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường tồn tại với chức năng cơ bản là tổ chức những can thiệp của Chính phủ nhằm bảo đảm được các mục tiêu với chi phí thấp nhất.

- Do có những hạn chế của việc phân bổ nguồn lực khan hiếm của cơ chế thị trường. Phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường thường hướng vào chuyển nguồn lực đầu tư sang lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao nhất, ít chú trọng đến những lợi ích mà xã hội mong muốn, dẫn đến sự phát triển tổng thể của nền kinh tế trở nên què quặt, sự bất bình đẳng trong xã hội gia tăng. Các khuyết tật của thị trường được nghiên cứu chỉ ra bao gồm: Độc quyền, hàng hóa dịch vụ công cộng, ngoại ứng, thông tin không hoàn hảo và đặc biệt là nền kinh tế theo chu kỳ, đã không mang lại hiệu quả phân bổ Pareto mà nhà kinh tế học người ý Vilfredo Pareto (1848 - 1923) tiêu biểu cho trường phái phân bổ nguồn lực hiệu quả đã phát biểu. Những nghiên cứu kinh tế tiếp theo của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng những hạn chế này được khắc phục bằng công cụ kế hoạch hóa do Nhà nước thực hiện.

Kế hoạch hóa kinh tế là phương thức thích hợp giúp lựa chọn ưu tiên nguồn lực có hạn, sắp xếp những dự án đầu tư 9 nhằm chuyển những nhân tố khan hiếm vào các lĩnh vực sản xuất có hiệu quả nhất, cải thiện hoặc đạt được hiệu quả phân bổ. - Do thái độ hay tâm lý của dân cư đối với với quá trình phát triển đất nước. Thái độ hay tâm lý của dân cư có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc công bố những mục tiêu xã hội và kinh tế quốc gia dưới dạng kế hoạch phát triển cụ thể có tác dụng quan trọng đến thái độ hay tâm lý của dân cư, tạo sự đồng thuận của dân chúng.

Nhân dân là lực lượng mạnh nhất, chèo lái con “thuyền quốc gia” tiến tới đích, Bác Hồ kính yêu đã nói: “Dễ nghìn lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Kế hoạch kinh tế được coi là công cụ tốt nhất để bảo đảm những động lực cần thiết, vượt qua chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa truyền thống trước một yêu cầu đòi hỏi sự tiến bộ xã hội và cuộc sống ấm no cho mọi người. Cơ chế KHH quan liêu bao cấp đã không còn đất sống, nền kinh tế đã thực sự vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, và cần thiết phải có KHH trong cơ chế thị trường là một yêu cầu hết sức cần thiết khách quan. Nói đến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường là nói đến hệ thống kế hoạch.

Hệ thống kế hoạch bao gồm các hình thức kế hoạch phát triển, là hệ thống công cụ điều hành quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước. Trong hệ thống kế hoạch hóa mỗi loại hình kế hoạch khác nhau có vai trò khác nhau và chúng có thể phân loại theo góc độ khác nhau. Nếu phân loại theo góc độ nội dung thì hệ thống kế hoạch hóa bao gồm các bộ phận cấu thành như: Chiến lược phát triển KTXH; quy hoạch phát triển KTXH; kế hoạch phát triển KTXH và các chương trình, dự án phát triển. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hệ thống các phân tích, đánh giá, lựa chọn về quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và các giải pháp cơ bản trong đó bao gồm các chính sách về cơ 10 cấu, cơ chế vận hành hệ thống kinh tế - xã hội nhằm đạt được những mục tiêu đề ra trong một khoảng thời gian dài.

Xây dựng và quản lý bằng chiến lược là một yêu cầu khách quan trong nền kinh tế thị trường bởi lẽ: (i) xây dựng và quản lý bằng chiến lược sẽ giúp cho các nhà lãnh đạo xem xét, xác định được đất nước sẽ đi theo hướng nào và khi nào sẽ đạt được những mục tiêu mà mình mong muốn và để đạt được mục tiêu đó cần có những giải pháp cơ bản nào; (ii) trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở, môi trường kinh tế - xã hội luôn chịu nhiều nhân tố tác động, có nhân tố tích cực, có nhân tố tiêu cực quản lý theo chiến lược sẽ giúp cho các nhà quản lý phát huy được những nhân tố tích cực và hạn chế những nhân tố tiêu cực; (iii) với việc quản lý bằng chiến lược sẽ giúp cho các nhà lãnh đạo và quản lý đưa ra được những quyết định tác nghiệp phù hợp. Chiến lược có chức năng chủ yếu là định hướng, vạch ra các đường nét chủ yếu cho sự phát triển của đất nước trong thời gian dài. Vì vậy, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mang tính chất định tính là chủ yếu (xác định quan điểm, phương hướng, chính sách…). Tuy nhiên, ở những mức độ nhất định chiến lược cũng phải có tính định lượng nghĩa là phải có tính toán, có các dự báo, các luận chứng cụ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ