Lời mở đầu Chương | : Những vấn dé lý luận về quyền tự do kinh doanh - nội dung và ý nghĩa của quyền tự do kinh doanh. Chương II : quyền tu do kinh doanh trong pháp luật kinh tế - thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật kinh tế bảo dảm quyền tự do kinh doanh ở nước ta. KẾT LUẬN CHƯƠNG | NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH -NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CUA QUYỀN TỰ DO KINH DOANH 1. NHUNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH I.
TỰ DO KINH DOANH Dưới góc độ kinh tế - chính trị học, thì kinh doanh là một phạm trù kinh tế gắn lién với sản xuất hang hoá. Nó phan ánh quan hệ giữa người với người trong sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm mục dích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu. Kinh doanh ra đời khi xuất hiện chế độ sỏ hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sự phân công lao dộng xã hội, có nghĩa là cùng với nền sản xuất hàng hoá và quy luật giá trị. Trong nền kinh tế tự cung tự cấp không có khái niệm kinh doanh.
Kinh doanh bắt nguồn từ quan hệ sé húu về tư liệu sản xuất và bị quan hệ sở hữu chi phối. Trong bộ tư bản C.Mac đã phân biệt rõ hai loại tu bản : Tư bản sở hữu và tư ban chức năng. Tư bản sỏ hữu là tư bản "chết" nằm yên, tư bản chức năng là tư bản hoạt động tư bản kinh doanh, làm cho tư bản "chết" trỏ thành tư bản "sống". Tuy thuộc vào kiểu và tính chất của chế dd sở hữu mà có một chế độ, một kiểu kinh doanh nhất định.
Mặt khác quan hệ kinh doanh có tác động trỏ lại quan hệ sở hữu. Quan hệ sé hữu quy định bản chất xã hội của quan hệ kinh doanh, mục dích và xu hướng vận dộng của nó. Nhưng tự nó quan hệ sở hứu không tao ra và không làm tăng thêm sản phẩm và giá trị. Nó chỉ là điều kiện cơ bản và tiên quyết của kinh doanh.
Muốn làm dược điều đó quan hệ sở hữu phải được thực hiện thông qua quan hệ kinh doanh. Nhờ có hoạt động kinh doanh mà quan hệ sở hữu dược thực hiện về mặt kinh tế, kinh doanh càng có hiệu quả thì mức dộ thực hiện sở hữu về mặt kinh tế càng cao. Kinh doanh bao giờ cũng phục vụ cho chế độ sở hữu, là hành động tiếp sau sở hữu. Do đó kinh doanh đóng vai trò làm cho sở hữu từ chỗ tồn tại về mặt hình thức, trỏ thành tồn tại hiện thực.
Với quan niệm đó người ta chia kinh doanh thành nhiều kiểu, chế độ, lĩnh vực kinh doanh khác nhau, như kinh doanh trong nền sản xuất hang hoá giản don, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường ; kinh doanh tư bản chủ nghĩa ; kinh doanh xã hội chủ nghĩa, kinh doanh trong công nghiệp ; kinh doanh trong nông nghiệp ; kinh doanh trong vận tải ; kinh doanh trong thương nghiệp. Dù phân chia như thế nào đi chăng nữa thì mục đích cuối cùng của kinh doanh là làm tăng thêm giá trị vật chất cho xã hội và dối với từng nhà kinh doanh thì đó chính là lợi nhuận. O nước ta đã có thời gian dài, tồn tại quan niệm không đầy dủ, không dúng về kinh doanh. Kinh doanh dược hiểu theo nghĩa rất hẹp, được coi là một khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, cụ thể là gắn với hoạt động lưu thông trao đổi, là buôn bán.
Thậm chí có người còn ác cảm với kinh doanh, coi kinh doanh là con dường dẫn dến bóc lột, do vậy chỉ có các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) mới được phép kinh doanh còn các thành phần kinh tế khác thì bị hạn chế và cấm đoán. Thực ra, kinh doanh, như dã trình bày ở trên, luôn gắn liền với quan hệ hàng hoá - tién tệ và quy luật giá trị. Trong bất kỳ phương thức nào, còn sản xuất hàng hoá và quy luật giá trị tồn tại khách quan thì còn có kinh doanh với tính cách là một phương thức hoạt động kinh tế của con người. Lần đầu tiên ở nước ta khái niệm kinh doanh được định nghĩa trong một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao.
Theo định nghĩa pháp lý được quy định tại Điều 3 Luật công ty (ngày 21.90) thì : "kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục dích sinh lợi". Có thể nói, với khái niệm trên, kinh doanh đã được hiểu một cách đúng dắn, đầy đủ bao gồm tất cả các hoạt động như dầu tư, sản xuất, buôn bán, dịch vụ, nếu các hoạt động này có mục dich sinh lợi. Hoạt động này không cần bao gồm tất cả các công đoạn để đạt đến kết quả cuối cùng mà chỉ cần một trong các hoạt động nói trên là đủ, miễn sao hoạt động đó có mục dich sinh lợi. Với khái niệm pháp lý này, kinh doanh có nội dung rất rộng.
O mức độ khái quát có thể đưa ra những dấu hiệu đặc trưng : - Hoạt động mang tính nghề nghiệp - Diễn ra trên thị trường - Nhằm mục dich sinh lợi Kinh doanh đã trỏ thành một nghề trong xã hội, do đó nó có những đòi hỏi riêng của nó về chủ thể cũng như diều kiện để hành nghề kinh doanh. Nhưng một trong những dòi hỏi có tính quy luật của nền kinh tế thị trường là phải bảo đảm cho con người tự do hành nghề kinh doanh. Vấn dé này bắt nguồn từ yêu cầu khách quan, có tính quy luật của nền kinh tế thị trường là sự tồn tại của những hình thức sd hữu khác nhau và sự phát triển của quan hệ hang hoá tiền tệ 6 trình độ cao. Vậy quan niệm thế nào là tự do kinh doanh.
Để hiểu vấn dé nay một cách khoa học, thiết nghĩ cũng nên tìm hiểu khái niệm tự do với tính cách là một giá trị vĩnh hằng của con người. Theo từ diển tiếng Việt xuất bản năm 1994 thì : "Tự do là phạm trù triết học chỉ khả năng biểu hiện ý chí, làm theo ý muốn của mình trên cơ sở nhận thức được quy luật phát triển của tự nhién, xã hội. Tu do là tất yếu được nhận thức". Như vậy, tự do biểu hiện mối quan hệ qua lại giữa hoạt động của con người và quy luật khách quan.
Trong lich sử tư tưởng nhân loại đã có những quan niệm khác nhau về tu do. Các nha duy tâm chủ nghĩa cho rang tu do va tất yếu là hai khái niệm loại trừ nhau. Họ coi tự do là tự do ý chí, là khả năng hành động phù hợp với sự thể hiện ý chí. Sự thể hiện này lại không do diều kiện bên ngoài quy định.
Họ cho rằng tư tưởng quyết định, quy định tính tất yếu của hành vi. Theo quan niệm này họ đã vứt bỏ trách nhiệm con người dối với xã hội. Quan niệm trên dã tuyệt đối hoá yếu tố chủ quan của chủ thể. Ngược lại vói quan niệm trên, một số nhà triết học khác lại cho rằng tự do ý chí trong mọi trường hợp đều do hoàn cảnh bên ngoài quyết dinh và tồn tại không phụ thuộc vào ý thức con người.
Diéu này có nghĩa là họ đã tuyệt đối hoá yếu tố khách quan, phủ nhận yếu tố nhận thức của chủ thể. Quan niện khoa học về tự do phải dựa trên sự thừa nhận mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu (các quy luật). Trong mối quan hệ này, cái tất yếu khách quan là cái có trước, còn ý chí, ý thức con người là cái thứ hai, cái phái sinh. Tất yếu tồn tại trong tự nhiên và xã hội dưới hình thức các quy luật khách quan.
Ý chí, ý thức của con người biểu hiện thông qua hành động phải phù hợp với quy luật, trên co sở nhận thức dúng dan quy luật mà hành động. Con người nhận thức được các quy luật càng sâu sắc thì hoạt động càng trỏ nên tự giác và tự đo. Con người không nhận thức được các quy luật thì trỏ thành nô lệ và không có tự do. Tu do của con người còn bị phụ thuộc vào các lực lượng xã hội dang thống trị họ trong những diều kiện lịch sd nhất định.
Nhu vậy khái niệm tự do là tương dối chú không có tự do tuyệt dối. Nếu chỉ xem xét khái niệm tự do với tư cách là một phạm trù triết hoc thì sé chưa dem lại ý nghĩa thực tiễn, bởi chưa có một đối tượng cụ thể, nó mới chỉ là ảo quyền (viễn quyền) chứ chưa phải là một thực quyền. Tự do phải gắn liền với một đối tượng cụ thể thì mới có ý nghĩa thực tiễn ( thực quyền) như một thứ quyền lợi của con người. Chẳng hạn như : tự do ngôn luận, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do lập hội, tự do hành nghề.
Do vậy không thể nói tự do một cách chung chung trừu tượng. Khi ta nói tự do kinh doanh, diều dó có nghĩa là tự do dã gắn với một đối tượng cụ thể trong vô số thứ tự do của con người. Kinh doanh chi là một trong vô số lĩnh vực hoạt động của con người trong xã hội mà thôi. Ti những điều phân tích trên, có thể dưa ra khái niệm tu do kinh doanh : Hiểu theo nghĩa chung nhất thì tự do kinh doanh là khả năng hành động của chủ thể theo ý mình trong mọi hoạt động của quá trình kinh doanh, trên cơ sở phù hợp với pháp luật.
Với quan niệm dé, tự do kinh doanh hàm chứa những thuộc tinh co bản sau : + Là khả năng hành động của chủ thể theo ý mình, cái khả năng hành động theo ý mình thể hiện tính độc lập, tự chủ của chủ thẻ trong hoạt động kinh doanh. Song giới hạn của khả năng hành động dén dâu, mức độ như thé nào, diéu đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trước hết đó là yếu tố khách quan, những yếu tố tồn tại bên ngoài chủ thé không lệ thuộc vào chủ thể như : Điều kiện kinh tế - xã hội ; co chế quản lý kinh tế của nhà nước ; quy định của pháp luật. Nói cách khác đó là môi trường kinh doanh mà trong đó các chủ thể kinh doanh hành động.
Môi trường đó là gì chúng tôi sẽ trình bày ky 6 phần tiếp theo trong luận án.