phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương: 5 z Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƢ 1. Khái niệm kinh doanh, đầu tƣ và quyền tự do kinh doanh 1. Khái niệm kinh doanh Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm về kinh doanh hay hoạt động kinh doanh. Dưới góc độ kinh tế, kinh doanh là một phạm trù gắn liền với sản xuất hàng hóa, là tổng thể các hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế.
Kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu. Ở nước ta, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước đây đã có quan niệm không đầy đủ, không đúng về kinh doanh. Kinh doanh được hiểu theo nghĩa rất hẹp, kinh doanh được coi là một phần của quá trình tái sản xuất, cụ thể là chỉ gắn với hoạt động lưu thông, trao đổi, là buôn bán. Thậm chí, có người còn ác cảm với kinh doanh, coi kinh doanh là con đường dẫn tới bóc lột.
Do vậy, chỉ có các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) mới được phép kinh doanh, còn các thành phần kinh tế khác thì bị hạn chế và cấm đoán. Ở nước ta, khái niệm kinh doanh được định nghĩa lần đầu trong Luật Công ty (1990). Theo quy định tại Điều 3 thì: "Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi". (Điều 3 Luật công ty 1990) Khái niệm kinh doanh được khẳng định lại trong Luật Doanh nghiệp (1999) (khoản 2 Điều 3) và Luật doanh nghiệp 2005.
Luật doanh nghiệp 2005 định nghĩa kinh doanh là “Việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ 6 z sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" (Theo khoản 2 Điều 4). So với luật công ty 1990 thì Luật doanh nghiệp 1999 và Luật doanh nghiệp 2005 chỉ thay đổi cụm từ “thực hiện dịch vụ” bằng cụm từ “cung ứng dịch vụ”. Đây chỉ là sự thay đổi nhỏ nhưng nó đúng và chính xác hơn bởi dịch vụ là hàng hóa vô hình, quá trình bàn giao và quá trình tiếp nhận sản phẩm của người mua và người bán là đồng thời nhau. Hoạt đông kinh doanh trong một số trường hợp được hiểu như hoạt động thương mại, khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 giải thích: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Với khái niệm trên, kinh doanh đã được hiểu một cách đầy đủ, đúng đắn bao gồm tất cả các hoạt động như: đầu tư, sản xuất, trao đổi, dịch vụ nếu các hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi. Hoạt động này không nhất thiết phải bao gồm tất cả các công đoạn để đạt đến kết quả cuối cùng mà chỉ cần một trong các hoạt động nói trên là đủ, miễn sao hoạt động đó có mục đích sinh lợi. Với khái niệm này, kinh doanh có nội dung rất rộng và ở mức độ khái quát có thể đưa ra những dấu hiệu đặc trưng sau: • Kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp. Điều đó có nghĩa là trong xã hội đã có những người, nhóm người, tổ chức mà nghề nghiệp chính của họ là kinh doanh, họ sống bằng nghề kinh doanh.
Kinh doanh mang tính thường xuyên, liên tục, ổn định và lâu dài. • Kinh doanh là hành vi diễn ra trên thị trường. Cụ thể, hoạt động kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa các nhà kinh doanh với nhau, với xã hội nói chung thông qua các quan hệ mua bán, trao đổi, … Những quan hệ này tự nó phản ánh quan hệ hàng hóa – tiền tệ. • Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận.
Đây là dấu hiệu rất quan trọng để phân biệt hành vi kinh doanh với các hoạt động khác. Khi xác định mục đích sinh lời trong hành vi kinh doanh cần hiểu ý định thu lợi nhuận của hành vi mới là tiêu 7 z chí quyết định, còn việc có đạt được lợi nhuận hay không cũng như việc sử dụng lợi nhuận đạt được cho mục đích gì không phải là dấu hiệu quyết định. Một trong những đòi hỏi mang tính quy luật của nền kinh tế thị trường là phải bảo đảm quyền tự do kinh doanh cho con người. Vấn đề này bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường là sự tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau, của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh.
Đồng thời nó cũng phù hợp với xu thế vận động phát triển của xã hội trong thế giới văn minh hiện đại. Khái niệm đầu tƣ Khái niệm đầu tư hiện nay được nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau. a) Dưới góc độ kinh tế Dưới góc độ kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó. Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để phát triển và xây dựng kinh tế, là chìa khóa của sự tăng trưởng kinh tế.
Các nguồn lực để đầu tư có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ. Trong cơ chế thị trường, hoạt động đầu tư có thể do những chủ thể khấc nhau (cá nhân, tổ chức) tiến hành và ngày càng phong phú, đa dạng cả về tính chất lẫn mục đích. Tuy vậy, mọi hoạt động đầu tư đều nhằm mang lại những lợi ích xác định như sự tăng lên về tài sản vật chất, trí tuệ hay nguồn nhân lực cho xã hội. Kết quả đầu tư không chỉ là lợi ích trực tiếp cho NĐT mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội.
b) Dưới góc độ chính trị - xã hội Dưới góc độ chính trị - xã hội, đầu tư được hiểu một cách thông thường là việc bỏ nhân lực, vật lực vào một công việc nào đó trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội, tức là trên cơ sở những thứ đã và đang có làm nền tẳng tạo nên sự phát triển hơn trong tương lai. Đại từ điển tiếng Việt đưa ra định nghĩa về đầu tư là “Bỏ sức lực, thời gian, trí tuệ để làm việc gì”. [3] c) Dưới góc độ pháp lý Ở Việt Nam, trước khi có Luật đầu tư 2005, khái niệm đàu tư kinh doanh còn chưa được định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật. Luật khuyến khích 8 z đầu tư trong nước sửa đổi ngày 20/5/1998 và Luật đầu tư nước ngoài (1996, 2000) không có định nghĩa về Luật đầu tư nói chung mà thay vào đó là các khái niệm đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thực chất chỉ điều chỉnh các quan hệ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam, các hoạt động đầu tư gián tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam không chịu sự điều chỉnh của Luật này. Năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư chung, theo đó, khái niệm đầu tư lần đầu được ghi nhận một cách chính thức. Theo khoản 1 Điều 3 Luật đầu tư, “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.” Luật đầu tư 2005 cũng phân biệt rõ khái niệm đầu tư và hoạt động đầu tư, theo đó, hoạt động đầu tư được hiểu “là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư” (Khoản 7 Điều 3). Từ khái niệm trên, có thể thấy đầu tư có những đặc điểm sau: - Các NĐT phải bỏ một lượng vốn nhất định để tiến hành đầu tư.
Trong hoạt động đầu tư, NĐT phải đích thân bỏ vốn đêt tiến hành đầu tư. Vốn đầu tư theo quy định tại Khoản 9 Điều 3 LĐT 2005 là “tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.” Tuy nhiên, theo định nghĩa về đầu tư theo khoản 1 Điều 3 LĐT 2005 thì vốn đầu tư là "loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư" Theo định nghĩa tại Điều 163 BLDS 2005 “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Như vậy có thể thấy, “tài sản” theo định nghĩa của LĐT có phạm trù rộng hơn định nghĩa trong BLDS bởi tài sản theo BLDS chỉ bao gồm tài sản hữu hình (vật, tiền, giấy tờ có giá) và quyền tài sản, đình nghĩa theo LĐT thì tài sản bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình. Tài sản vô hình không chỉ bao gồm quyền tài sản. - Mục đích của đầu tư là nhằm sinh lợi nhuận.
9 z Đầu tư là một hoạt động thương mại (Theo Điều 1 khoản 3 Luật thương mại 2005, đầu tư được liệt kê là một hoạt động thương mại). NĐT bỏ một lượng vốn nhất định trong hiện tại với mong muốn sẽ thu về một lượng lớn hơn trong tương lai. Nếu không vì mục đích lợi nhuận, NĐT sẽ không tiến hành đầu tư. - Đầu tư mang tính rủi ro.
Mục đích của NĐT khi tiến hành đầu tư là hướng đến lợi nhuận. Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp NĐT đều thực hiện được mục tiêu này. Có thể NĐT bị mất cả lượng vốn ban đầu bởi nguyên nhân nào đó không lường trước được dẫn đến việc đầu tư không có hiệu quả. Khái niệm đầu tư trong LĐT 2005 đã chỉ ra được một số đặc điểm của đầu tư.
Tuy nhiên, khái niệm này còn nhiều hạn chế bởi : - Thứ nhất : Nhà làm luật dùng các khái niệm đang cần làm rõ để giải thích, lấy cái chưa biết để giải thích cho nhau, như vậy là không phù hợp với logic ngôn ngữ.