CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI KTTN Ở VIỆT NAM. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KTTN VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI KTTN Ở VIỆT NAM 1. Những vấn đề cơ bản về KTTN Khái niệm KTTN. Ở Việt Nam, trước khi diễn ra đại hội X thì Đảng và nhà nước ta quan niệm KTTN bao gồm hai thành phần kinh tế là kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ.
Đại hội X năm 2006 thì lại gộp chung hai thành phần kinh tế này lại với nhau. Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân được gộp chung vào thành một thành phần kinh tế duy nhất là thành phần KTTN với các hình thức tồn tại cơ bản là cá thể, tiểu chủ tư bản tư nhân. Điều này trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, KTTN (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về KTTN nhưng nhìn chung các quan niệm này đều có điểm chung là KTTN liên quan chặt chẽ với sở hữu tư nhân, không có sở hữu tư nhân thì cũng không có KTTN.
Như vậy, có thể hiểu KTTN là một loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, vốn và kết quả sản xuất kinh doanh được tạo ra cũng thuộc về người sở hữu tư liệu sản xuất ấy và vốn ấy. Khái niệm KTTN được dùng để chỉ các loại hình kinh tế cùng dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Xét về quan hệ sở hữu, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản 7 tư nhân đều thuộc cùng một loại hình sở hữu tư nhân, khác với sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể. Kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là những hình thức kinh tế khác nhau về trình độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Tuy nhiên, trong thực tế việc phân định rạch ròi đâu là kinh tế tư bản tư nhân, đâu là kinh tế cá thể, tiểu chủ không phải là việc đơn giản bởi sự vận động phát triển, biến đổi không ngừng giữa hai loại hình kinh tế này và sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Bản chất của KTTN. Để xác định bản chất của KTTN, cần xem xét KTTN trên ba mối quan hệ cơ bản: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm. - Quan hệ sở hữu: Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ sở tồn tại của KTTN.
Sở hữu tư nhân phát triển từ thấp đến cao và bao gồm hai hình thức cơ bản: + Sở hữu tư nhân nhỏ là sở hữu của cá nhân hay hộ gia đình sản xuất ra sản phẩm bằng sức lao động của chính cá nhân hay hộ gia đình đó. Sở hữu tư nhân nhỏ là hình thức sở hữu tồn tại chủ yếu trong nền sản xuất hàng hoá đơn giản, giá trị thặng dư không đáng kể; + Sở hữu tư nhân lớn gắn liền với sự xác lập nền sản xuất lớn, là đại biểu của nền kinh tế hàng hoá phát triển đến trình độ cao của phương thức sản xuất tư bản công nghiệp. Trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ cơ bản, sở hữu tư nhân lớn ra đời dựa trên cơ sở tích tụ tư bản (vốn) và sử dụng lao động làm thuê. Một phần giá trị thặng dư đã được tích luỹ để tái sản xuất mở rộng nhằm không ngừng phát triển sản xuất kinh doanh, tạo ra ngày càng nhiều nhiều hơn giá trị thặng dư.
Đối với hình thức cá thể, do dựa trên quy mô nhỏ và hầu như không sử dụng lao động làm thuê, nên việc tổ chức quản lý sản xuất được diễn ra trong phạm vi một gia đình cá thể. Các cá nhân tự mình tổ chức sản xuất hoặc chịu sự phân công, quản lý của người chủ gia đình trong quá trình sản xuất kinh doanh. 8 Kinh tế tiểu chủ là hình thức tổ chức sản xuất có quy mô sản xuất, kinh doanh lớn hơn kinh tế cá thể, tự mình trực tiếp lao động và có thuê một phần lao động. Đối với hình thức tổ chức kinh doanh kiểu kinh tế tư bản tư nhân, việc tổ chức quản lý sản xuất được biểu hiện ở mô hình doanh nghiệp.
Như đã nêu ở trên, mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp ra đời gắn liền với sự hình thành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là một mô hình tổ chức kinh doanh mà chủ thể doanh nghiệp đồng thời là chủ thể tư bản (vốn), có thuê mướn lao động và có mục tiêu tạo ra giá trị thặng dư. Mô hình doanh nghiệp ngay từ khi mới ra đời đã thể hiện là mô hình sản xuất mới, khác với hình thức kinh tế cá thể. - Quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất: đối với kinh tế cá thể các cá nhân tự mình tổ chức sản xuất hoặc chịu sự phân công, quản lý của người chủ gia đình trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Kinh tế tiểu chủ có quy mô lớn hơn tự mình trực tiếp lao động và có thuê một phần lao động. Còn kinh tế tư bản tư nhân tổ chức quản lý sản xuất ở mô hình doanh nghiệp, nó ra đời gắn liền với hình thành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là một mô hình tổ chức kinh doanh mà chủ thể doanh nghiệp đồng thời là chủ thể tư bản (vốn), có thuê lao động và có mục tiêu tạo ra giá trị thặng dư. - Quan hệ phân phối: Quan hệ phân phối là việc giải quyết mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cá nhân tham gia vào quá trình tái sản xuất.
Trong KTTN, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau có quan hệ phân phối khác nhau. Đối với kinh tế cá thể, do dựa vào sức lao động của bản thân nên sản phẩm và kết quả lao động chủ yếu thuộc về chính họ hay cá nhân đó. Với kinh tế tư bản tư nhân, nói chung quan hệ phân phối được dựa trên giá trị: người công nhân được trả tiền công căn cứ vào giá trị sức lao động của họ còn nhà tư bản thì thu giá trị thặng dư. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, do sự phát triển của lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá ngày càng cao làm cho 9 quan hệ phân phối trở nên phức tạp hơn.
Người lao động thông qua hình thức tài chính trung gian như thị trường chứng khoán để tham gia vào quá trình phân phối giá trị thặng dư. Vai trò của KTTN ở Việt Nam. KTTN có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình phát triển KTTN ở Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước: Một là, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Với số lượng đông đảo, các doanh nghiệp KTTN tạo ra một lượng thu nhập đáng kể cho xã hội. Theo số liệu thống kê ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp KTTN chiếm khoảng 80% trong tổng số doang nghiệp, đóng góp trên 40% GDP của nền kinh tế. Hai là, huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. KTTN với những lợi thế của mình như cần vốn ít, dễ dàng tạo lập cơ hội cho đông đảo dân cư tham gia đầu tư.
Vì vậy, đẩy mạnh phát triển KTTN được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng các khoản tiền đang phân tán, nằm im trong dân cư, biến chúng thành những khoản vốn đầu tư. Hơn nữa, KTTN được phân bố ở hầu hết các địa phương, các vùng lãnh thổ góp phần quan trọng tạo lập sự cân đối, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế,văn hoá giữa các vùng, miền với nhau. Ba là, góp phần tăng nguồn hàng xuất khẩu và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Sự phát triển của nền KTTN làm tăng số lượng doanh nghiệp và khả năng cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho xã hội.
Hơn nữa, KTTN góp phần khôi phục và thúc đẩy các ngành nghề truyền thống ở các địa phương phát triển, tạo ra một lượng hàng xuất khẩu đáng kể cho đất nước. Bốn là, tạo công ăn việc làm và góp phần ổn định xã hội. Trong thực tế nước ta hiện nay thì 90 % số công ăn việc làm mới là do KTTN tạo ra. Điều này không chỉ góp phần tạo việc làm, ổn định xã hội mà còn có tác dụng đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động vốn đang mất cân đối ở Việt Nam hiện nay.
Những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với KTTN. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với KTTN. Quản lý nhà nước bằng pháp luật là việc nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội. Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định: "Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN" [31, tr.
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, có mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau, cùng phát sinh, tồn tại, phát triển và tiêu vong; đều là phương tiện của quyền lực chính trị. Nhà nước thiếu công cụ pháp luật có tính bắt buộc chung thì không thể phát huy vai trò quản lý kinh tế - xã hội của mình vì không thiết lập được trật tự, kỷ cương trong quản lý. Pháp luật mà thiếu sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước thì sẽ không thể phát huy tác dụng cưỡng chế và giá trị thuyết phục phòng ngừa. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và được bảo đảm thực hiện bằng nhà nước.
Vai trò và giá trị xã hội to lớn của pháp luật thể hiện ở chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội và là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự ổn định và phát triển năng động của các quan hệ kinh tế - xã hội.