Chương 1: Tổng quan về kiểm soát nội bộ công ty Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát nội bộ công ty và thực tiễn hoạt động kiểm soát nội bộ công ty hiện nay Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội bộ trong công ty va nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. TONG QUAN VE KIEM SOÁT NỘI BỘ TRONG CONG TY 1. Sơ lược lịch sử về kiểm soát nội trong công ty Bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp, do nhu cầu mở rộng và phát triển, các công ty cần có vốn và từ đó nhu cầu tăng cường quản lý vốn và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn trở nên cấp thiết. Hình thức ban đầu của kiểm soát nội bộ là kiểm toán tiền và thuật ngữ kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này [28, tr.
Đến năm 1929, thuật ngữ kiểm soát nội bộ được đề cập chính thức trong một công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Ky, theo đó kiểm soát nội bộ được định nghĩa là một công cụ dé bao vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc day nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Năm 1936, trong một báo cáo được công bó, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Ky (AICPA — American Institute of Certified Public Accountants) đã định nghĩa kiểm soát nội bộ “. /à các biện pháp va cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tô chức dé bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của số sách”. Năm 1977, sau vụ bê bối chính trị Watergate, Quéc hội Hoa Ky đã thông qua Luật Hành vi hối lộ ở nước ngoài.
Luật này nhấn mạnh việc kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp [13, tr. Đây là lần đầu tiên khái niệm kiểm soát nội bộ được đề cập trong một văn bản pháp luật. Năm 1985, Ủy ban COSO (The Committee of Sponsoring Organization) là một ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính được thành lập với nhiệm vụ xác định các yếu tố có thé dé bị gian lận trên báo cáo tài chính, phân tích tìm ra nguyên nhân nham đưa ra giải pháp giảm thiểu những ảnh hưởng của các gian lận đó đến thông tin kế toán và thông tin kinh tế trên báo cáo tài chính được công bố. Năm 1992, Ủy ban COSO lần đầu tiên công bồ chính thức báo cáo, đây là tài liệu đầu tiên trên thé giới nghiên cứu về kiểm soát nội bộ một cách day đủ, chi tiết và có hệ thống.
Nó cung cấp tầm nhìn và mang tính quản trị, không chỉ là một van dé liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho nhiều phương diện khác [13, tr. Đến năm 2013, dựa trên cơ sở Báo cáo COSO 1992, Ủy ban COSO đã cập nhật và ban hành Báo cáo COSO 2013. Báo cáo COSO 2013 đã được cập nhật dé phù hop với môi trường kinh doanh lúc bấy giờ. Trong qua trình phát triển kinh tế, kiểm soát nội bộ đã phát triển nhanh chóng dé đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của các đơn vị, tô chức.
Ở Việt Nam, sự ra đời và phát triển của hoạt động kiểm soát nội bộ gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhu cầu quản trị của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động kiểm toán. Theo đó, hoạt động liên quan đến kiểm soát nội bộ công ty đã được quy định trong các luật như: Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Kế toán năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản hướng dan,. hay một số các quy chế kiểm toán như: Quy chế kiểm toán độc lập do Bộ Tài chính ban hành vào tháng 1/1994, quy chế kiểm toán nội bộ áp dụng tại các doanh nghiệp Nhà nước do Bộ Tài chính ban hành vào tháng 10/1994, Quy chế mẫu về tô chức và hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ trong các tô chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam kém theo Quyết định số 03/1998/QD-NHNN do Thống đốc Ngân hang Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 03/01/1998; Tháng 9/1999, Bộ Tài chính ban hành bốn chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và 26 chuẩn mực kiểm toán từ năm 2000 đến năm 2005. Ngày 06/12/2012, Bộ Tài chính đã ban hành và chuẩn hóa lại 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam theo quy định quốc tế.
Nhìn chung, ở Việt Nam, hoạt động kiểm soát nội bộ đã bắt đầu được Nhà nước quan tâm và đưa vào một sô văn bản quy phạm có liên quan, tuy nhiên chưa được coi trọng đúng mức và hệ thong ly luận vé hoat động kiểm soát nội bộ còn chưa được đầy đủ. Hoạt động kiểm soát nội bộ chủ yếu vẫn thường được xem như công cụ quan trọng hỗ trợ kiểm toán độc lập thực hiện hoạt động kiểm toán và chưa được đánh giá, xem xét là công cụ quan trọng hữu ích cho quá trình quan lý các hoạt động của doanh nghiệp dé đạt được các mục tiêu mà công ty, doanh nghiệp dé ra [33, tr13]. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ là một trong những thiết chế đảm bảo và hạn chế những sự cố xảy ra trong quá trình quản lý và kinh doanh. Dựa vào kiểm soát nội bộ, chủ doanh nghiệp có thể nhìn nhận được những thiếu sót trong hệ thống từ đó đưa ra các biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Kiểm soát nội bộ được hình thành dé giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu mà chủ sở hữu đã đề ra, tuân thủ tôn chỉ hoạt động của doanh nghiệp, giảm thiêu những rủi ro xảy ra bất ngờ gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động của doanh nghiệp cũng như chủ sở hữu doanh nghiệp. Dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau thì sẽ có nhiều quan điểm khác nhau về hoạt động kiểm soát nội bộ. Theo Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ (AICPA), kiểm soát nội bộ là những biện pháp, cách thức được chấp nhận thực hiện trong nội bộ một tổ chức dé bảo vệ tiền, các tài sản khác và kiểm tra sự chính xác trong việc ghi chép số. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) thì kiểm soát nội bộ là một hệ thống các chính sách, các thủ tục được thiết lập tại đơn vị nhằm đảm bảo độ tin cậy các thông tin, việc thực hiện các chế độ pháp luật và hiệu quả hoạt động [ 13, tr.
Theo Luật Kế toán năm 2015, khái niệm hoạt động kiểm soát nội bộ được quy định tại khoản 1 Điều 39: “Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kê toản các cơ chê, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử ly kịp thời rui ro và đạt được yêu cầu dé ra”. Theo đó, doanh nghiệp phải thiết lập kiểm soát nội bộ trong đơn vị dé đảm bảo: - Tài sản của đơn vị được đảm bảo an toàn, tránh sử dụng không hiệu quả, sai mục đích; - Các nghiệp vụ được thông qua đúng thâm quyền và được ghi lại đầy đủ làm cơ sở cho công tác lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực và hợp lý. Tại Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06/12/2012 của Bộ Tài Chính về Chuan mực Kiểm toán Việt Nam có đưa ra khái niệm kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vi trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Theo Báo cáo COSO 1992 và Báo cáo COSO 2013, kiểm soát nội bộ là một quá trình được chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vi, được thiết kế dé cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả hoạt động; Mục tiêu VỀ Sự tin cậy của báo cáo tài chính; Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định [13.
Khái niệm về kiểm soát nội bộ được nêu trong Báo cáo COSO 1992 và Báo cáo COSO 2013 được chấp nhận và sử dụng khá rộng rãi trên thé giới tuy nhiên báo cáo này không mang tính bắt buộc mà chủ yếu mang tính hướng dẫn. Do vậy, dựa trên các chỉ dẫn theo Báo cáo COSO 1992 và Báo cáo COSO 2013, khi nhận thức về vấn đề “kiểm soát nội bộ” công ty, có thê thấy rằng vấn đề này có thể tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau. Mặt khác, khi nhìn lại khái niệm về quản trị công ty theo quan điểm của OECD [29, tr.12], ta nhận thấy rằng quản trị công ty không chỉ liên quan đến các van 10 dé quản lý điều hành hoạt động công ty mà còn liên quan đến các van đề kiểm soát công ty. Quản trị nội bộ công ty không chỉ hướng đến điều hành, quản lý mà còn hướng đến hoạt động kiểm soát nhằm giúp công ty vận hành có hiệu quả, thực hiện được các mục tiêu cốt yếu là bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu cùng những người có liên quan.
Với định hướng tiếp cận như trên, khái niệm kiểm soát nội bộ công ty trong đề tài này được tiếp cận như một khía cạnh của vấn đề quản trị công ty, xem xét kiểm soát nội bộ trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp. Theo đó, khái niệm kiêm soát nội bộ có thé được hiểu là quá trình kiểm tra, giám sát sự thiết lập, phân chia và thực hiện quyền lực nội bộ. Hoạt động kiểm soát nội bộ được xây dựng và tô chức thực hiện bởi thành viên, chủ sở hữu công ty nhằm đảm bảo cho các chủ thé được giao quyền thực hiện đúng, đủ và man cán quyền hạn và trách nhiệm của mình để đạt được những mục tiêu ban đầu đã đặt ra của thành viên, chủ sở hữu. Kiểm soát nội bộ công ty thực chất là hoạt động kiểm tra, giám sát đảm bảo cho tổ chức và hoạt động của công ty được thực hiện một cách lành mạnh, tuân thủ pháp luật, hướng tới mục tiêu bảo vệ quyên, lợi ích của chủ sở hữu công ty và các lợi ích chính đáng của những chủ thé khác trong quan hệ VỚI cong ty.