Lời mở đầu nhằm giới thiệu lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu, xác định đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, từ đó đưa ra những kiến nghị đóng góp của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận, tổng quan các nghiên cứu liên quan về đặc điểm UBKT, HQHĐ của doanh nghiệp. Chương 3: Xây dựng giả thuyết nghiên cứu, các mô hình nghiên cứu liên quan để xác định mối quan hệ giữa đặc điểm UBKT và HQHĐ doanh nghiệp. Chương 4: Thảo luận về các kết quả nghiên cứu thực hiện sau khi chạy các mô hình.
Chương 5: Một số khuyến nghị cho doanh nghiệp và các bên liên quan. Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu 2.1 Ủy ban kiểm toán 2.1 Khái niệm Đạo luật Sarbanes-Oxley (SOX 2002, phần 2) định nghĩa UBKT là một ủy ban (hoặc cơ quan tương đương) được thành lập bởi hội đồng quản trị (HĐQT) của tổ chức phát hành với mục đích giám sát quy trình báo cáo tài chính (BCTC), kế toán và kiểm toán BCTC của tổ chức phát hành. Levitt (2005) đã khẳng định một UBKT có năng lực, tận tâm, độc lập và cứng rắn là một trong những người bảo vệ đáng tin cậy nhất cho lợi ích công. Đồng quan điểm đó, James Treadway (1986) cũng nhấn mạnh rằng một UBKT thông minh, siêng năng, độc lập có tác động đến hiệu quả để giảm thiểu báo cáo tài chính gian lận.
Các UBKT ngày càng được đặt kỳ vọng nhiều hơn trong suốt những năm từ 1990 đến nay khi các vụ bê bối BCTC chấn động diễn ra như: Enron, Lehman Brothers, Bernie Madoff, WorldCom, Tyco,… Trong các trường hợp thao túng tài chính, UBKT phải chịu trách nhiệm về việc đó (Bhagat & Jefferies, 2002). Như vậy, sự tồn tại của UBKT là vô cùng quan trọng đi kèm với trách nhiệm vô cùng lớn với sự cẩn trọng trong nghề nghiệp giúp nâng cao giá trị doanh nghiệp. Theo Parker (1992) UBKT là ủy ban do công ty bổ nhiệm làm đầu mối liên lạc giữa HĐQT và kiểm toán viên bên ngoài. Ủy ban thường có đa số thành viên HĐQT không điều hành và được kỳ vọng sẽ xem xét, xử lý công việc của công ty một cách độc lập.
Trước những bê bối kế toán lớn và cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, vai trò của quản trị doanh nghiệp và đặc biệt là UBKT được chú trọng vì ủy ban này đảm bảo tính trung thực, chính xác của BCTC (Wilbanks và cộng sự, 2017). UBKT được coi là nhân tố chính và quan trọng đảm bảo hệ thống quản trị hoạt động một cách hiệu quả. Trách nhiệm cốt lõi của những thành viên trong ủy ban này là giám sát quy trình BCTC để Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 9 giảm thiểu tình trạng bất đối xứng thông tin trong quá trình báo cáo HQHĐ của các nhà quản lý. Dezoort (1997) cho rằng UBKT đảm nhận trách nhiệm quan trọng, là đại diện cho HĐQT về các vấn đề giám sát liên quan đến BCTC, kiểm toán và quản trị công ty nói chung.
Mặc dù có các bộ nguyên tắc, chính sách, bộ luật được ban hành đòi hỏi các công ty phải tuân thủ để tránh bị phạt nhưng không phải bộ phận nào trong công ty cũng áp dụng một cách nghiêm túc và đầy đủ. Vì vậy, UBKT được sinh ra như một cơ chế quản trị doanh nghiệp có nhiệm vụ giám sát ban quản lý, kiểm toán viên bên ngoài và kiểm toán viên nội bộ nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của các cổ đông. Quan điểm của Wild (1996) cho rằng UBKT bao gồm các thành viên từ HĐQT, tốt nhất là nên độc lập với ban quản lý, đóng vai trò là một tiểu ban của HĐQT. Trách nhiệm chung của ủy ban này là giám sát quá trình kiểm toán BCTC và nâng cao chất lượng của quá trình này.
Ông cũng lập luận rằng một chủ tịch trước đây của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch đã khẳng định sự phát triển của UBKT có thể coi là quan trọng nhất trong cấu trúc và kiểm soát của các doanh nghiệp mà mang lại lợi ích cho các bên liên quan, những người quan tâm đến chất lượng BCTC và cuối cùng là cải thiện hiệu suất thị trường. Đồng quan điểm của các nhà nghiên cứu trên, Mallin (2007) cũng định nghĩa UBKT là ủy ban tư vấn quan trọng nhất do vai trò bảo vệ lợi ích của các cổ đông bên cạnh việc giám sát và kiểm soát tài chính. Bộ phận này đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quản trị doanh nghiệp và nó là một công cụ tạo ra giá trị bằng cách đảm bảo minh bạch thông tin tài chính, xây dựng và duy trì niềm tin của các bên liên quan. Cụ thể hơn, Baruch (1980) đã chỉ ra hai trách nhiệm chính của UBKT là (i) giám sát độ tin cậy của các quy trình kiểm toán và kế toán của công ty bao gồm cả kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ; (ii) giám sát việc tuân thủ tính hợp pháp và tiêu chuẩn đạo đức của công ty bao gồm cả việc kiểm soát, đưa ra các biện pháp phòng ngừa các gian lận tài chính.
Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 10 Ở Việt Nam, hệ thống các quy định về quản trị doanh nghiệp được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp luật. Trong đó Bộ Luật Doanh nghiệp có vai trò quan trọng, là tiền đề để giải quyết hầu hết các vấn đề nảy sinh trong các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Khoản 1, Điều 161 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Ủy ban kiểm toán là cơ quan chuyên môn thuộc Hội đồng quản trị. Ủy ban kiểm toán có từ 02 thành viên trở lên.
Chủ tịch Ủy ban kiểm toán phải là thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Các thành viên khác của Ủy ban kiểm toán phải là thành viên Hội đồng quản trị không điều hành.” Như vậy, UBKT là một tiểu ban quan trọng của HĐQT, đây được coi là “cánh tay nối dài” của HĐQT, là một hệ thống giám sát thiết yếu đối với quản trị công ty. UBKT là một chất xúc tác để thực hiện, tuân thủ và duy trì các thông lệ quản trị công ty được chấp nhận để mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan và ban quản lý. Bên cạnh đó, UBKT còn hỗ trợ HĐQT trong việc đảm bảo rằng thông tin tài chính của các nhà quản lý doanh nghiệp là đáng tin cậy, minh bạch và đáp ứng mức trách nhiệm giải trình cao nhất.2Đặc điểm của ủy ban kiểm toán Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với hàng loạt vụ bê bôi tài chính đã tác động tiêu cực đến các tổ chức kinh doanh trên toàn thế giới.
Nguyên nhân chính dẫn đến những vụ việc đáng tiếc này là do các thành viên của ban quản lý thiếu trung thực, liêm chính để thổi phồng doanh thu, lợi nhuận nhằm gian lận, thu về lợi ích cá nhân. Điều đó nói lên thực trạng về sự yếu kém của hệ thống quản trị và ban điều hành. Theo Kallamu & Saat (2015), nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết các vụ bê bối kế toán xảy ra nếu công ty đã thành lập UBKT là do ủy ban này không hoàn thành nhiệm vụ của họ như mong đợi. Do đó, mối quan tâm đối với vai trò của UBKT đã tăng lên trong những năm gần đây vì đây là công cụ quản trị doanh nghiệp nhằm thúc đầy quá trình giám soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 11 Theo Jesen & Meckling (1976), Hill & Jones (1992), lý thuyết về người đại diện giả định rằng lượi ích của người ủy thác và người đại diện khác nhau, người ủy thác có thể điều chỉnh hoặc giảm bớt điều này bằng cách cung cấp các ưu đãi cho người đại diện, phát sinh chi phí từ các hoạt động giám sát và hạn chế các hoạt động tư lợi cá nhân của người đại diện. Theo lý thuyết này, UBKT đóng vai trò là cố vấn cho HĐQT với mục tiêu mang lại các nguồn lực có giá trị cho các công ty, nâng cao giá trị thưc của doanh nghiệp. Họ là một cơ quan nhỏ nhưng vô cùng quan trọng trong hệ thống quản trị của doanh nghiệp vì bộ phận này hỗ trợ HĐQT đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và ủy thác đối với các cổ đông. UBKT hoạt động như một cơ chế giám sát chất lượng hoạt động của công ty để đảm bảo tính nhất có, phát hiện và ngăn ngừa mọi hành vi gian lận có thể phát sinh (Ghaemi và cộng sự, 2020).
Đạo luật Sarbanes-Oxley (2002) chỉ ra rằng trách nhiệm hiện tại của UBKT là giám sát các quy trình kế toán, kiểm toán và BCTC của các công cộng. UBKT được kỳ vọng hoạt động một các độc lập, hiệu quả nhằm bảo vệ lợi ích chung cho các bên liên quan. HĐQT Sàn giao dịch chứng khoán Úc xác định vai trò của UBKT bao gồm việc giám sát tính trung thục trong BCTC của công ty và giám sát tính độc lập của kiểm toán viên bên ngoài. Đối với các công ty tại Hoa Kỳ, UBKT được nhắc đến với vai trò đánh giá rủi ro từ đó đưa ra các chiến lược phòng ngừa rủi ro của các doanh nghiệp (Sàn giao dịch chứng khoán New York, 2011).
Hơn nữa, UBKT đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống quản trị vì nó là một công cục tạo ra giá trị doanh nghiệp bằng cách đảm bảo minh bạch thông tin tài chính và bằng cách xây dựng, duy trì niềm tin của các bên liên quan và khách hàng nói chung. Như vậy, theo Anderon và công sự (2004), UBKT cải thiện hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc nâng cao chất lượng thông tin. Bộ phận này xác nhận tính chính xác, đầy đủ của thông tin cũng như BCTC do ban quản lý cung cấp và phản ánh lại tình Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 12 hình kinh doanh cho các cổ đông và các bên liên quan nhằm giảm bớt sự bất cân xứng về thông tin và giảm thiểu xung đột lợi ích. Để tìm được câu trả lời cho câu hỏi: “Làm thế nào để đẩy mạnh hiệu quả hoạt động Ủy ban kiểm toán?” của doanh nghiệp, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự ảnh hưởng của quy mô UBKT là một trong những đặc điểm quan trọng nhất có tác động đến cơ chế này.
Bauer và cộng sự (2009), Hsu & Petchsakulwong (2010) là những nhà nghiên cứu cho rằng quy mô được coi là yếu tố đầu tiên của đặc điểm UBKT. Herdjiono & Sari (2017) đã tuyên bố rằng hiệu quả của UBKT phụ thuộc vào đặc điểm của ủy ban chẳng hạn như quy mô.