Phần mở đầu, Kết luận chung và Danh mục tài liệu tham khảo , thì nô ̣i dung của luâ ̣n văn đươ ̣c chia thành 2 Chương: Chƣơng 1: Lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và một số giải pháp hoàn thiện. 10 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm, phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô về vốn, lao động hay doanh thu ở một ngưỡng nhất định do pháp luật quy định. Theo thông lệ quốc tế, căn cứ vào quy mô thì doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại, đó là: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Qua tham khảo pháp luật của các quốc gia trên thế giới cho thấy pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng 2 nhóm tiêu chí phổ biến để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Tiêu chí định tính: được xác định dựa trên những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa như: không có vị thế độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh trên thị trường, kỹ năng chuyên môn hoá thấp, chưa thiết lập mạng lưới phân phối… và do đó thường khó xác định trên thực tế.
vì vậy, nó chỉ được làm cơ sở để tham khảo mà ít được sử dụng trên thực tế để phân loại. Tiêu chí định lượng: được xác định dựa trên những chỉ tiêu định lượng của doanh nghiệp như: Số lao động thường xuyên và không thường xuyên trong doanh nghiệp; giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong đó: Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế. Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản hay vốn cố định, giá trị tài sản còn lại.
Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong một năm, tổng giá trị gia tăng trong một năm. Ở mỗi quốc gia, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa của nước mình, như: Ở Đức, doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người, ở Bỉ là dưới 100 người; trong khi đó 11 tại Mỹ lại phân loại chi tiết hơn, những doanh nghiệp có số lao động dưới 100 người được coi là doanh nghiệp nhỏ, dưới 500 người là doanh nghiệp vừa… Ở Việt Nam, Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 không đưa ra định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa mà chỉ nêu tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: (1) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng. (2) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.
Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, thì tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô, bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Cụ thể : - Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng; còn trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ thì doanh nghiê ̣p siêu nhỏ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. - Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ; còn doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ là doanh nghiệp có số lao 12 động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. - Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ; còn doanh nghiệp nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ là doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ.
- Về xác định lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định căn cứ vào quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế và quy định của pháp luật chuyên ngành. Trường hợp hoạt động trong nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định căn cứ vào lĩnh vực có doanh thu cao nhất. Trường hợp không xác định được lĩnh vực có doanh thu cao nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định căn cứ vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động nhất. - Về xác định số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội là toàn bộ số lao động do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và trả lương, trả công tham gia bảo hiểm xã hội theo pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm được tính bằng tổng số lao động tham gia bảo hiểm xã hội của năm chia cho số tháng trong năm và được 13 xác định trên chứng từ nộp bảo hiểm xã hội của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 01 năm, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân được tính bằng tổng số lao động tham gia bảo hiểm xã hội của các tháng hoạt động chia cho số tháng hoạt động. - Về xác định tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa Tổng nguồn vốn được xác định trong bảng cân đối kế toán thể hiện trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 01 năm, tổng nguồn vốn được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cuối quý liền kề thời điểm doanh nghiệp đăng ký hưởng nội dung hỗ trợ.
- Về xác định tổng doanh thu của doanh nghiệp nhỏ và vừa Tổng doanh thu của năm là tổng doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp và được xác định trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 01 năm hoặc trên 01 năm nhưng chưa phát sinh doanh thu thì doanh nghiệp căn cứ vào tiêu chí tổng nguồn vốn quy định tại Điều 9, Nghị định 39/2018/NĐ-CP để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Qua khảo sát hệ thống pháp luật trên thế giới và của Việt Nam có thể rút ra những đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa là một chủ thể kinh doanh, có đầy đủ các đặc điểm của một doanh nghiệp theo hệ thống pháp luật quốc gia. Theo quy đinh ̣ ta ̣i Khoản 1 Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 thì doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy 14 sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí: tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng và tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 01/01/2017, Việt Nam có tổng số 517.900 doanh nghiệp đăng ký; trong đó số doanh nghiệp nhỏ và vừa là 507.086 doanh nghiệp chiếm tới 98,1%. Trong đó, gần 8,5 nghìn doanh nghiệp vừa; 114,1 nghìn doanh nghiệp nhỏ và 385,3 nghìn doanh nghiệp siêu nhỏ.3 Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động và phát triển do những hạn chế như: quy mô nhỏ, thiếu vốn và khó tiếp cận các nguồn vốn trong xã hội; trình độ công nghệ còn lạc hậu, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, thiếu mặt bằng để phát triển sản xuất kinh doanh, chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu, khó liên kết để tạo thế mạnh chung. Các mô hình đầu tiên xuất hiện từ đầu thập niên 1950 trên thế giới nhìn nhận khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa như một thực thể yếu đuối cần bảo vệ, do vậy, chính phủ các nước theo quan điểm này đã xây dựng các chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo chiều rộng nhằm mục đích chủ yếu là để thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội như giải quyết công ăn việc làm hay phát triển cân đối vùng.