CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Lý luận chung về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tiếp cận ở góc độ chức năng hoạt động của ngân hàng thì “tín dụng ngân hàng (TDNH) là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương, 2011, trang 5-6). Các đặc trưng cơ bản về tín dụng ngân hàng Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương (2011) đưa ra những đặc trưng của tín dụng ngân hàng gồm: Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng đa dạng, có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản hoặc chữ ký.
Rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn. Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố khả năng trả nợ và/hoặc thiện chí trả nợ không được hình thành đầy đủ. Trong đó thiện chí trả nợ là yếu tố vô hình, do vậy rủi ro tín dụng là yếu tố xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng, ngân hàng không thể triệt tiêu, loại bỏ hoàn toàn được rủi ro tín dụng. Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng.
Phần lãi là giá phải trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi. Để thực hiện được nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi suất dương. Để hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi phải cân nhắc hai yếu tố căn bản sau đây: (i) xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý, (ii) chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và được nền kinh tế chấp nhận. Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện.
Các chứng từ được hình thành trong quan hệ tín dụng Ngân hàng như hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, 8 khế ước nhận nợ…đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn. Đây chính là những ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng của ngân hàng. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế Nguyễn Văn Tiến (2009) nêu lên vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế gồm: Thứ nhất, vai trò kinh tế cơ bản của tín dụng ngân hàng là luân chuyển vốn từ những người (cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư (do chi tiêu ít hơn thu nhập) đến những người thiếu hụt (do nhu cầu chi tiêu vượt quá thu nhập). Kênh luân chuyển vốn qua ngân hàng có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tính hiệu quả của nền kinh tế.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và tăng năng suất lao động. Thứ ba, thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào những ngành, nghề, khu vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành, nghề đó và hình thành nên cơ cấu hiện đại, hợp lý và hiệu quả. Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường, kiểm soát giá trị dòng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước. Thứ năm, tín dụng ngân hàng mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước (NSNN) thông qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác đầu tư vốn của chính phủ.
Thứ sáu, tín dụng ngân hàng là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội. Các hình thức tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới nhiều hình thức, được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau theo các tiêu chí phân loại khác nhau. Trên thực tế, người ta thường đề cập đến các hình thức tín dụng ngân hàng với nhiều các tiêu thức phân chia khác nhau gồm: 9 Căn cứ thời hạn cấp tín dụng + Tín dụng ngắn hạn: bao gồm những khoản tín dụng có thời hạn trong vòng 12 tháng trở xuống và được sử dụng để tài trợ vốn lưu động thiếu hụt theo thời vụ cho các doanh nghiệp, những khoản vay tiêu dùng có thời hạn ngắn. Khách hàng vay đa dạng nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế xã hội.
+ Tín dụng trung hạn: bao gồm những khoản tín dụng có thời hạn sử dung tín dụng trên 1 năm cho đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để tài trợ cho tài sản cố định, ví dụ mua sắm, cải tạo sửa chữa nhà ở, mua máy móc dây chuyền công nghệ trong các doanh nghiệp, bổ sung vốn lưu động thường xuyên… + Tín dụng dài hạn: bao gồm những khỏan tín dụng có thời hạn sử dụng tín dụng từ trên 5 năm trở lên. Những dự án đầu tư qui mô lớn của doanh nghiệp, các khoản vay mua nhà của cá nhân… thuộc dạng này. Căn cứ mục đích sử dụng tín dụng + Tín dụng cho sản xuất kinh doanh: bao gồm tất cả các khoản tín dụng tài trợ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Chủ thể cho vay có thể là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các hộ kinh tế cá thể…với nhiều mục đích đa dạng, chẳng hạn bổ sung vốn lưu động theo thời vụ, vay đầu tư cải tạo, xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị… + Tín dụng tiêu dùng: đáp ứng cho các nhu cầu mua sắm nhà cửa, xe cộ, chi tiêu, sinh hoạt cá nhân/hộ gia đình… + Tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác: tín dụng cho sản xuất kinh doanh và tín dụng tiêu dùng thường được cung cấp trực tiếp cho người có nhu cầu – “bán lẻ”, những tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác được xem là những khoản tín dụng được cung cấp dưới dạng “bán sỉ/buôn”.
Căn cứ theo xuất xứ/nguồn gốc của khoản tín dụng: + Tín dụng trực tiếp: bao gồm những khỏan tín dụng được hình thành trực tiếp trong quan hệ giữa ngân hàng và người vay. + Tín dụng gián tiếp: gồm những khoản tín dụng được ngân hàng thực hiện trên cơ sở mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán trên các phiếu bán hàng, 10 thương phiếu… từ người sở hữu chúng, bao gồm chiết khấu, bao thanh toán, tài trợ bán trả góp… Căn cứ tính chất đảm bảo/mức độ tín nhiệm của người vay: + Tín dụng có đảm bảo: là tín dụng dựa trên cơ sở của các biện pháp bảo đảm được pháp luật quy định trong bộ luật dân sự như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh… Hầu hết các khách hàng mới, ít quan hệ đều phải áp dụng bảo đảm mới được ngân hàng cấp tín dụng, nhằm hình thành nguồn trả nợ bổ sung trong trường hợp nguồn trả nợ đầu tiên không thực hiện được. + Tín dụng không có đảm bảo: là tín dụng chỉ dựa trên uy tín của chính người nhận tín dụng mà không cần các biện pháp bảo đảm tiền vay đi kèm. Thường áp dụng đối với khách hàng truyền thống, tín nhiệm cao, phương án vay có hiệu quả kinh tế, dòng tiền trả nợ rõ ràng, chắc chắn, ngoài ra còn phải cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản khi tổ chức tín dụng yêu cầu thì mới được ngân hàng chấp nhận cấp tín dụng không có bảo đảm.
Căn cứ theo hình thức cấp tín dụng: + Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. + Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. + Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo thỏa thuận. + Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các 11 khoản phải trả phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng.
Việc phân loại tín dụng ngân hàng theo một số tiêu thức như trên chỉ có ý nghĩa tương đối trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết. Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cấp tín dụng và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 định nghĩa “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động với nhiều hình thức đa dạng và phong phú: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh… và được phân loại dựa trên tiêu chí qui mô kinh doanh. Ở Việt Nam, theo điều 3 của Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính Phủ về trợ giúp phát triển DNNVV định nghĩa DNNVV như sau: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo qui mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) cụ thể như sau: 12 Bảng 1.