Chương 1 trinh bày những lý thuyết cơ bản về DNNVV, tín dụng ngân hàng đối với DNNVV và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của đối tượng này. Điều này tạo cơ sở cho việc phân tích khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV trong chương 2 và chương 3.1 Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm doanh nghiệp Tại Việt Nam, theo quy định tại Khoản 1, Điều 4, Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 29/11/2005, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh.” Trên thực tế, có nhiều cách khác nhau để định nghĩa cũng như phân loại doanh nghiệp. Một số tiêu chí thường dùng để phân loại doanh nghiệp gồm: phân loại theo hình thức pháp lý (gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); phân loại dựa vào chế độ trách nhiệm (gồm doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn); phân loại dựa vào quy mô doanh nghiệp (gồm doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ).2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một khái niệm tương đối so với doanh nghiệp có quy mô lớn. Thật khó có thể có một khái niệm mang tính phổ quát với lý do là môi trường kinh doanh của các DNNVV thường không đồng nhất và không ổn định.
Tùy theo điều kiện của từng quốc gia, trình độ phát triển kinh tế, định hướng phát triển trong từng thời kỳ mà khái niệm này có thể thay đổi. Tuy nhiên, tiêu chí 2 phân loại DNNVV có thể được phân thành hai nhóm chính gồm nhóm các tiêu chí định tính và nhóm các tiêu chí định lượng. Nhóm chỉ tiêu định lượng thường dựa trên các chỉ tiêu có thể đo lường được về quy mô của doanh nghiệp như số lượng lao động, tài sản hay vốn, doanh thu. Cách phân loại định lượng sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho các cuộc nghiên cứu thực nghiệm tuy nhiên các nhà chuyên môn lại cho rằng nó không đầy đủ để phân biệt với các doanh nghiệp lớn.
Vì vậy, tiếp cận định tính được đề xuất nhằm khắc phục những nhược điểm của phân tích định lượng, phân loại DNNVV với doanh nghiệp lớn dựa trên các yếu tố về quản trị và tổ chức của doanh nghiệp. Nhóm chỉ tiêu định tính dùng để phân loại DNNVV có thể bao gồm các yếu tố như: hệ thống quản lý của doanh nghiệp, chiến lược hay mục tiêu của doanh nghiệp, đặc điểm về tăng trưởng và phát triển, văn hóa doanh nghiệp, vấn đề sở hữu, mức độ chuyên môn hóa hay thị trường tiêu thụ,. Nhìn chung, các tiêu chí này có thể phản ánh đúng bản chất của loại hình DNNVV, tuy nhiên trong thực tế khó dùng các tiêu chí này để phân định DNNVV mà chỉ dùng để tham khảo hoặc kiểm chứng do các chỉ tiêu rất khó đo lường. Tham khảo tiêu chí phân loại DNNVV của các quốc gia trên thế giới cho thấy, các chỉ tiêu thường dùng là vốn, lao động và doanh thu.
Tùy điều kiện cụ thể mà mỗi nước có thể chọn một, hai hoặc cả ba yếu tố này hoặc có thể quy định các tiêu chí khác nhau cho từng lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Sau đây luận văn sẽ giới thiệu cách thức phân loại DNNVV của một số nước trên thế giới cũng như của Việt Nam. Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới (WB) và công ty tài chính quốc tế, DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động (Trương Quang Thông, 2010). 3 Tại Mỹ, Cục quản lý kinh doanh nhỏ (SBA) xác định DNNVV là một đơn vị kinh doanh có ít hơn 500 lao động, trong đó doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp sử dụng dưới 100 lao động, doanh nghiệp vừa sử dụng từ 100 – 500 lao động. Tại khu vực Châu Âu (Khối EU), DNNVV là các doanh nghiệp có ít hơn 250 lao động, doanh số không quá 50 triệu euro hoặc tổng tài sản không quá 43 triệu euro. Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có dưới 10 lao động, doanh số hoặc tổng tài sản không quá 2 triệu euro.
Doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50, doanh số hoặc tổng tài sản từ từ 2 đến dưới 10 triệu euro. Doanh nghiệp vừa có số lượng lao động từ 50 đến dưới 250 người, doanh số không quá 50 triệu euro hoặc tổng tài sản không quá 43 triệu euro (Trương Quang Thông, 2010). Tại Nhật Bản, DNNVV được phân loại theo từng khu vực kinh doanh. Đối với khu vực sản xuất, DNNVV là doanh nghiệp có dưới 300 lao động và vốn đầu tư là 1 triệu USD.
Đối với khu vực thương mại và dịch vụ, DNNVV là doanh nghiệp có dưới 100 lao động (đối với doanh nghiệp bán buôn) hay 50 lao động (đối với doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ), vốn đầu tư dưới 300. Tại Malaysia, đối với doanh nghiệp khu vực nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có từ 5 – 30 lao động, doanh thu từ 300.000 MYR đến 3 triệu MYR; doanh nghiệp vừa có từ 30 – 75 lao động và doanh thu từ 3 triệu MYR đến không quá 20 triệu MYR. Đối với doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có từ 5 – 75 lao động và doanh thu từ 300.000 MYR đến 15 triệu MYR; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có 75 – 200 lao động và doanh thu từ 15 triệu MYR đến không quá 50 triệu MYR (Nguyễn Đức Tâm, 2014). Tại Việt Nam, theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNNVV, DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp nhà nước; các hợp tác xã thành lập và hoạt 4 động theo Luật hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 109/2004/NĐ – CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng Việt Nam hoặc số lao động bình quân hằng năm dưới 300 người.
Như vậy, theo định nghĩa này, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu thức lao động hoặc vốn đưa ra trong nghị định này đều được coi là DNNVV. Căn cứ theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của chính phủ ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm, đồng thời cũng được quy định cụ thể cho từng ngành nghề hoạt động, thể hiện ở Bảng 1.1: Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế tại Việt Nam Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Ngành Tổng Số lao Tổng Số lao Số lao động nguồn động nguồn vốn động vốn Nông, lâm < 20 tỷ Từ 10 – Từ 20 – Từ 200 – nghiệp và < 10 người đồng 200 100 tỷ 300 người thủy sản người đồng < 20 tỷ Từ 10 – Từ 20 – Công nghiệp Từ 200 – < 10 người đồng 200 100 tỷ và xây dựng 300 người người đồng Thương mại < 10 tỷ Từ 10 – Từ 10 – 50 Từ 50 – < 10 người và dịch vụ đồng 50 người tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của chính phủ ngày 30/06/2009. 5 Như vậy, việc xác định DNNVV tại Việt Nam hiện nay dựa trên tiêu chí quy mô về vốn, lao động và tính chất ngành nghề. Nhìn chung, các tiêu chí phân loại này là tương đối phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của Việt Nam nay, nhất là việc xác định dựa trên tiêu chí ngành nghề bởi đặc thù hoạt động trong mỗi nhóm ngành này có sự khác biệt khá rõ.
Tuy nhiên, việc dùng một trong hai tiêu chí tổng nguồn vốn hoặc lao động bình quân hằng năm để xác định DNNVV cũng còn khá chung chung, khó phân định, có thể dẫn đến sự khác biệt về số liệu thống kê nếu sử dụng một trong hai tiêu chí.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Nghiên cứu về mô hình DNNVV của các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam nhận thấy các DNNVV có một số đặc điểm cơ bản như sau: Thuận lợi trong việc thành lập và tổ chức hoạt động Trong một chừng mực nào đó, đây được xem là một ưu thế của DNNVV so với các doanh nghiệp lớn. Với một số vốn nhỏ, diện tích mặt bằng không quá lớn, số lượng lao động ít, các điều kiện sản xuất đơn giản, doanh nghiệp có thể khởi nghiệp, bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh. Thông thường, DNNVV sẽ tham gia vào những lĩnh vực có chu kỳ sản xuất ngắn, không đòi hỏi đầu tư trang thiết bị công nghệ nhiều, vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, thu hồi vốn nhanh hoặc vay mượn dễ dàng. Đây cũng là nguyên nhân giải thích cho việc gia tăng nhanh chóng về số lượng của DNNVV.
Đa dạng về loại hình sở hữu Doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát triển ở nhiều loại hình khác nhau như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã. Cơ cấu tổ chức đơn giản, linh hoạt Với cơ cấu tổ chức đơn giản, số lượng lao động ít, DNNVV sẽ dễ có sự đồng thuận trong các quyết sách từ lãnh đạo cho đến nhân viên. Đồng thời, hầu hết các 6 DNNVV được thành lập và hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn trên cơ sở các mối quan hệ gia đình, bạn bè nên chủ doanh nghiệp đóng vai trò quyết định chủ yếu.