Chương I: Cơ sở lý luận về vai trò của thông tin tài chính nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương II: Thực trạng vai trò thông tin tài chính đối với việc tiếp cận nguồn vốn doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hà Nội. Chương III: Một số giải pháp thông tin tài chính nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hà Nội. z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV) 1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trƣờng.
Ở nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp chính vào trong chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch vụ (supply chain) và mạng sản xuất toàn cầu (chuỗi giá trị toàn cầu). Các DNNVV có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, góp phần thu hẹp khoảng cách về thu nhập trong xã hội, tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư của dân cư địa phương, cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên năng động và hiệu quả hơn… Trên địa bàn Hà Nội, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp tích cực vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần làm tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) làm cho nền kinh tế đa dạng và linh hoạt. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ khai thác các tiềm lực sẵn có trong dân cư về ngành nghề, về lao động, về vốn. Ngoài ra cũng như DNNVV ở tất cả các nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hóa đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn đầu tư là một yếu tố thiết yếu và quan trọng. Vốn là yếu tố cơ bản để khai thác và phối hợp với các yếu tố như z lao động, đất đai, công nghệ và quản lý để tạo ra lợi nhuận. Vốn có vai trò to lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân cũng như cũng như trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên, một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều doanh nghiệp đang thiếu vốn trầm trọng thì nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư còn chưa được huy động.
Trong khi chính sách tài chính tín dụng của Chính phủ và các ngân hàng chưa thực sự gây được niềm tin đối với nguồn vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư thì nhiều DNNVV đã tiếp xúc trực tiếp với nguồn vốn này, hoặc bản thân chính những nhà đầu tư có vốn đứng ra đầu tư kinh doanh, thành lập doanh nghiệp. Dưới khía cạnh đó, DNNVV có vai trò to lớn trong việc huy động vốn để phát triển kinh tế. Doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả được thể hiện ở chỗ trong quá trình kinh doanh, nhiều DNNVV có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn kinh doanh một cách hiệu quả, với tư cách là đại lý và vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, DNNVV cung cấp những bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp lớn (công nghiệp hỗ trợ) hoặc thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường mà doanh nghiệp lớn khó có thể với tới để phân phối các sản phẩm. Cùng với đó có một sự tương đồng tỷ lệ thuận đó là khi số DNNVV tăng lên sẽ kéo theo sự gia tăng nhanh chóng số lượng các sản phẩm và dịch vụ mới trong nền kinh tế và cũng chính nhờ hoạt động với quy mô nhỏ và vừa, các DNNVV thường có ưu thế chuyển hướng kinh doanh từ những ngành nghề kém hiệu quả sang các ngành khác hiệu quả hơn, thỏa mãn nhu cầu linh hoạt của dân cư.
Chính sự phát triển đó của các DNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính linh hoạt và giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế. z Doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Việc phát triển các DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả các khía cạnh: vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Trước tiên, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng nhờ sự phát triển của các khu vực nông thôn thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh.
Các doanh nghiệp được phân bố đều hơn cả ở lãnh thổ lẫn ở vùng nông thôn, đô thị, miền núi, đồng bằng. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh các DNNVV còn có tác dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng mạnh của các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Sự phát triển các DNNVV cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo. Việc phát triển các DNNVV còn có tác dụng duy trì và thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc, khai thác thế mạnh của đất nước và từng địa phương.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế. Như trên vừa đề cập, không chỉ có mối quan hệ thân thiết giữa các DNNVV và doanh nghiệp lớn mà trong quá trình hình thành và phát triển với những ngành nghề khác nhau luôn có mối quan hệ mật thiết giữa các DNNVV. Ví dụ như tại Nhật Bản, trong nhiều thập kỷ qua, mối quan hệ giữa những DNNVV với các doanh nghiệp lớn tạo nên sự thành công của doanh nghiệp. Bởi vậy, khi các DNNVV Việt Nam phát triển sẽ góp phần tăng cường sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các DNNVV và giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn, nhờ đó mà các rủi ro kinh doanh sẽ được chia sẻ tạo nên hiệu quả cao trong nền kinh tế.
z Doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo cơ sở để hình thành các doanh nghiệp lớn. Kinh nghiệm phát triển kinh tế ở nhiều nước cho thấy hiện nay phần lớn các công ty và tập đoàn kinh tế đa quốc gia đều trưởng thành từ các DNNVV. Với cách xem xét đó, DNNVV chính là nguồn tích lũy ban đầu và là “lồng ấp” cho các doanh nghiệp lớn. Hầu hết các cơ sở kinh tế dân doanh ở nước ta và Hà Nội khi mới ra đời do thiếu kinh nghiệm và chưa thật hiểu biết về thị trường nên thường lựa chọn quy mô kinh doanh vừa và nhỏ để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh.
Sau một thời gian tích lũy thêm vốn, kinh nghiệm và khẳng định được vị thế của mình trên thị trường, DNNVV mới tiến hành mở rộng kinh doanh và phát triển với quy mô lớn hơn. Ngoài ra, DNNVV còn là nơi đào tạo nghề và trau dồi kinh nghiệm cho các cán bộ quản lý của các doanh nghiệp lớn vì người lao động thường có xu hướng chỉ làm trong các DNNVV một thời gian, sau khi có đủ kinh nghiệm và khả năng họ sẽ chuyển sang các doanh nghiệp lớn để làm việc, hưởng thu nhập cao hơn. Nhờ thế, doanh nghiệp lớn tiết kiệm được nhiều chi phí đào tạo khi tuyển được các nhân viên có tay nghề từ các DNNVV chuyển sang. Như vậy có thể DNNVV còn là nơi đào tạo lao động cho các doanh nghiệp lớn.
Về mặt xã hội, các DNNVV giúp tạo việc làm cho người lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nhất là ở khu vực đô thị. Một đặc điểm chung của các DNNVV là ít vốn và hoạt động chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động. Do đó, khu vực DNNVV ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên Thế giới tạo ra nhiều việc làm nhất cho nền kinh tế. Với tính chất sản xuất nhỏ, chi phí để tạo ra một chỗ làm việc thấp, các DNNVV có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra nhiều cơ hội tăng thêm việc làm cho nền kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp và ổn định xã hội bằng cách thu hút nhiều lao động với chi z phí thấp, qua đó giải quyết nhiều vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của người lao động. Việt Nam là một nước nông nghiệp, năng suất của nền sản xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp, việc phát triển các DNNVV ở thành thị cũng như ở nông thôn là một trong các biện pháp cơ bản góp phần tăng nhanh thu nhập của các tầng lớp dân cư. Thông qua việc phát triển các DNNVV, lao động ở nông thôn sẽ được thu hút vào các doanh nghiệp nhờ đó mà thu nhập của dân cư được cải thiện và nâng cao.Cuộc sống của người dân nông thôn sẽ ổn định , giảm nghèo, giảm khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng mức độ công bằng trong nền kinh tế. Hơn nữa, do có tính năng động và linh hoạt, khi các DNNVV phát triển sẽ tạo điều kiện phát huy lợi thế của mỗi vùng, phát triển các ngành nghề, các khu công nghiệp, tạo điều kiện giảm bớt khoảng cách giữa các vùng trên toàn quốc, xóa bỏ mức chênh lệch về thu nhập rất lớn giữa các vùng dân cư.
Sự tham gia của các DNNVV làm tăng tính cạnh tranh trong cung ứng các dịch vụ công cộng, góp phần vào quá trình xã hội hoá các dịch vụ công ích ở đô thị, qua đó thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá các lĩnh vực, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước, tăng hiệu quả xã hội. Ngoài các vai trò như đã đề cập ở trên, các DNNVV ở Việt Nam và Hà Nội còn có vai trò trong việc phát triển các tài năng kinh doanh. Trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ kinh doanh đã gắn nhiều với cơ chế bao cấp, chưa có kinh nghiệm làm việc trong nền kinh tế thị trường. Sự phát triển của các DNNVV có tác dụng đào tạo, chọn lọc và thử thách đội ngũ doanh nhân.