Tổng quan luận án

Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại giữ vai trò huyết mạch trong nền kinh tế quốc dân, có tính chất nhạy cảm cao trước các biến động vĩ mô và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nhận thức rõ điều này, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định phương hướng trọng tâm là cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, gắn liền với xử lý nợ xấu. Nhằm cụ thể hóa chủ trương trên, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành các văn bản định hướng quan trọng như Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011–2015, Quyết định số 734/QĐ-NHNN ngày 18/04/2013 ban hành Kế hoạch hành động triển khai Đề án 254, và Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2017 phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016–2020, đặt mục tiêu các ngân hàng thương mại cơ bản đạt chuẩn an toàn vốn Basel II.

Trong tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại, xử lý tài chính (bao gồm xử lý vốn, xử lý nợ xấu và xử lý tài sản) được xác định là nhiệm vụ trọng tâm quyết định sự thành bại. Mặc dù hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này đã từng bước được ban hành như Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014 và năm 2020, Luật Cạnh tranh năm 2018, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013 cùng các Thông tư chuyên ngành của Ngân hàng Nhà nước (Thông tư số 04/2010/TT-NHNN, Thông tư số 36/2014/TT-NHNN, Thông tư số 03/2014/TT-NHNN, Thông tư số 06/2017/TT-NHNN), thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều bất cập. Những vướng mắc pháp lý nổi cộm gồm: thiếu tiêu chí định giá cổ phần khi các bên không đạt được thỏa thuận; quy định về tỷ lệ lãi suất đối với khoản tiền gửi trước khi tái cấu trúc chưa rõ ràng; quy định về tỷ lệ an toàn vốn và cơ chế hoán đổi nợ xấu thành vốn góp còn thiếu khung pháp lý điều chỉnh cụ thể. Xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện khung khổ pháp lý điều chỉnh quá trình này, đề tài "Pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hương thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 9 38 01 07), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Minh Hằng và TS. Đồng Ngọc Ba.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung chính:

  • Bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận của pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại;
  • Đánh giá ưu điểm, hạn chế của thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại tại Việt Nam;
  • Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại, nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phân tích bản chất các khái niệm: tái cấu trúc ngân hàng thương mại, xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại, pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại;
  • Luận giải các vấn đề lý luận về xử lý tài chính và pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại;
  • Đánh giá thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động này;
  • Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại ở nước ta;
  • Tìm hiểu kinh nghiệm pháp luật quốc tế (Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, Hoa Kỳ) và rút ra bài học cho Việt Nam;
  • Xác định định hướng và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cùng giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án được đánh số cụ thể như sau:

  1. Thứ nhất, tái cấu trúc ngân hàng thương mại là gì? Xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại là gì? Xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại có phải là toàn bộ quá trình tái cấu trúc hay chỉ là một hoạt động của quá trình đó?
  2. Thứ hai, Nhà nước can thiệp như thế nào để đảm bảo quá trình xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại diễn ra thành công, bảo đảm quyền lợi của cổ đông, khách hàng và bảo đảm an toàn cho hoạt động của các ngân hàng thương mại cũng như an toàn nền tài chính quốc gia?
  3. Thứ ba, pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại là gì? Cách tiếp cận nội dung pháp luật này như thế nào là hợp lý? Pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại được xây dựng, hoàn thiện và thực thi trên cơ sở những nguyên tắc nào?
  4. Thứ tư, thực trạng pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại ở Việt Nam như thế nào? Các quy định đã hoàn thiện, đủ mạnh để bảo đảm quá trình này diễn ra thuận lợi, bảo vệ quyền lợi các chủ thể liên quan hay chưa?
  5. Thứ năm, việc hoàn thiện pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại và nâng cao hiệu quả thực thi cần tuân theo những định hướng cụ thể nào? Giải pháp nào giúp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nào nâng cao hiệu quả thực thi?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Thứ nhất, hoạt động xử lý tài chính là trọng tâm của quá trình tái cấu trúc ngân hàng thương mại. Nếu xử lý tài chính không thành công thì quá trình tái cấu trúc cũng thất bại. Do tác động trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của nhiều chủ thể, Nhà nước cần thiết lập hệ thống pháp luật đủ mạnh để điều chỉnh.
  2. Thứ hai, xử lý tài chính tập trung vào ba nhóm hoạt động cơ bản: xử lý vốn, xử lý nợ xấu và xử lý tài sản. Các bộ phận này có sự tác động qua lại lẫn nhau, sự thành công của hoạt động này sẽ thúc đẩy các hoạt động khác.
  3. Thứ ba, xử lý tài chính phải được đặt trong mối quan hệ thống nhất với các hoạt động khác của quá trình tái cấu trúc như tái cấu trúc nhân sự và tái cấu trúc hoạt động kinh doanh.
  4. Thứ tư, xử lý tài chính phải hướng đến mục tiêu giúp các ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả hơn, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các học thuyết, quan điểm lý luận về tái cấu trúc và xử lý tài chính ngân hàng; đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước; các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam trong các đạo luật kinh tế, ngân hàng, dân sự liên quan; thực tiễn thực thi pháp luật và kinh nghiệm quốc tế.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam, có so sánh tham chiếu kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Thái Lan, Malaysia.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn tái cấu trúc ngân hàng thương mại từ năm 2010 đến năm 2021.
  • Phạm vi thực tiễn ngân hàng: Khảo sát các thương vụ tiêu biểu như hợp nhất Ngân hàng TMCP Đệ Nhất, Ngân hàng TMCP Sài Gòn và Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB, năm 2011); sáp nhập Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (Habubank) vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB, năm 2012); sáp nhập Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiA Bank) vào Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank, năm 2013); xử lý tài sản bảo đảm tại Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank - VCCB).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học liên quan theo bốn nhóm nội dung chính:

  1. Các công trình liên quan đến khái niệm tái cấu trúc và xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại:
  • Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Mạnh Hùng (2013) trong bài viết "Tiếp tục tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam" (Tạp chí Khoa học đào tạo ngân hàng, số 128) đã điểm lại quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB, 1998), Claudia Dziobek (1998) và Ceyla Pazarbasioglu về tái cấu trúc ngân hàng và các hợp phần tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc hoạt động, giám sát an toàn.
  • Vũ Văn Thực (2013) trong bài viết "Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam" (Tạp chí Phát triển và hội nhập) xác định tái cấu trúc là việc thay đổi nguồn vốn, tài sản, tài chính và cơ cấu tổ chức để vận hành lành mạnh.
  • Lê Trung Thành (2017) trong sách "Tái cấu trúc hệ thống tài chính ở Việt Nam" (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội) phân tích định nghĩa của Ủy ban Basel về tái cấu trúc ngân hàng theo chuẩn mực Basel II.
  • Nguyễn Quỳnh Hoa (2014) trong luận án tiến sĩ kinh tế "Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam" nhấn mạnh tái cấu trúc nhằm khắc phục khiếm khuyết hệ thống để duy trì chức năng trung gian thanh toán và tín dụng.
  • John Hawkins và Philip Turner (1999) trong công trình "Bank restructuring in practice: An overview" (Bank for International Settlements - BIS) phân tích sự cần thiết, bản chất và các nội dung giảm nợ quá hạn, gia nhập thị trường thứ cấp.
  • Đặng Thị Việt Đức và Phan Anh Tuấn (quantri.vn) phân tích khái niệm tài chính theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
  • Đặng Phương Mai (2016) trong luận án tiến sĩ kinh tế "Giải pháp tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp trong ngành thép ở Việt Nam" (Học viện Tài chính) phân tích tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp nhằm tối đa hóa giá trị.
  • Các nghiên cứu của Wei Xu, Xiangzhen Xu, Shoufeng Zhang (2005), Dilip Ratha (2003), Berger (1995, 2008), Zeitun (2012), Trujillo-Ponce (2010) luận giải mối quan hệ tương hỗ và quan hệ đồng biến giữa cơ cấu vốn, đòn bẩy tài chính và hiệu quả tái cấu trúc.
  1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về xử lý vốn khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại:
  • Berger, A. và DeYoung, R. trong bài báo "How do large banking organizations manage their capital ratio?" (Journal of Financial Services Research) phân tích việc quản lý tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng quốc tế.
  • John Armour (2006) trong bài viết "Legal Capital: An outdated Concept?" (Working Paper No. 320, University of Cambridge) lập luận về quy chế vốn pháp định trong hoạt động doanh nghiệp và ngân hàng.
  • Hồ Tuấn Vũ (nghiencuuphapluat) chỉ ra nguy cơ quyền lợi của cổ đông thiểu số bị chi phối trong các thương vụ mua bán, sáp nhập ngân hàng.
  • Nguyễn Minh Hằng và Lương Linh Chi (2019) trong bài viết "Quyền của cổ đông lớn của bên sáp nhập trong quá trình sáp nhập và sáp nhập từ một số thương vụ sáp nhập ngân hàng thương mại" (Kỷ yếu Hội thảo Trường Đại học Luật Hà Nội) phân tích thương vụ Habubank sáp nhập vào SHB năm 2011–2012.
  • Nguyễn Thị Gấm (thitruongtaichinhtiente.vn) nghiên cứu vấn đề bán cổ phần ngân hàng thương mại cho nhà đầu tư nước ngoài và bảo đảm an toàn hệ thống.
  • Phạm Minh Sơn (2016) trong luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay" (Học viện Khoa học xã hội) phân tích giới hạn quyền, nghĩa vụ thông báo của ngân hàng đối với người gửi tiền và chủ nợ khi thực hiện M&A.
  1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về xử lý nợ xấu khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại:
  • Đặng Hà Giang (2020) trong bài viết "Tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam" (Tạp chí Tài chính) phân tích áp lực nợ xấu gia tăng đối với tiến trình tái cấu trúc.
  • Phan Huy Đức (2013) trong bài viết "Mô hình AMC giải quyết nợ xấu tại các nước Đông Á" phân tích kinh nghiệm vận hành công ty quản lý tài sản tại Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia.
  • Hà Phương (2020) và Anh Khoa (2019) phân tích thực trạng hoạt động của các AMC trực thuộc ngân hàng thương mại và vai trò của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) qua cơ chế phát hành trái phiếu đặc biệt.
  • Đào Duy Huân (2013) trong bài viết "Hiện trạng thị trường mua bán nợ Việt Nam và chính sách phát triển" chỉ ra rào cản bảo mật thông tin kinh doanh khi ngân hàng bán nợ cho cá nhân, tổ chức.
  • Tôn Thanh Tâm (2017) trên Tạp chí Ngân hàng cùng các bài phân tích của Nguyễn Vũ (2016), Đỗ Linh (2018) nghiên cứu các tình huống thực tế về hoán đổi nợ xấu thành vốn góp tại BianfishCo - SHB, VietinBank tham gia cổ phần hóa các cảng thuộc Vinalines (5.000 tỷ đồng), ACB hoán đổi nợ thành 12,6 triệu cổ phần vận tải biển.
  1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về xử lý tài sản khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại:
  • Trần Thị Bảo Anh (2018) trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp nghiên cứu phương pháp định giá tài sản trí tuệ trong các thương vụ M&A ngân hàng.
  • Nguyễn Như Quỳnh (2019) trong luận văn thạc sĩ luật học "Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn Ngân hàng TMCP Bản Việt" (Học viện Khoa học xã hội) phân tích dữ liệu thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tại VCCB.
  • Các bài viết trên Thời báo Ngân hàng (2016) và Tạp chí Tòa án nhân dân (2020) phản ánh vướng mắc về thời điểm và điều kiện xử lý tài sản thế chấp của bên thứ ba.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình nêu trên chỉ tiếp cận xử lý tài chính dưới góc độ tài chính - ngân hàng thuần túy, hoặc nghiên cứu xử lý tài chính trong điều kiện ngân hàng hoạt động bình thường, hoặc xem xét M&A đơn lẻ mà chưa gắn liền với bức tranh tổng thể của tái cấu trúc. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống lý luận pháp lý hoàn chỉnh về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại; phân tích toàn diện mối quan hệ giữa xử lý vốn, xử lý nợ xấu và xử lý tài sản dưới góc độ khoa học pháp lý; đồng thời đề xuất sửa đổi trực tiếp các quy định pháp luật còn bất cập trong Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản liên quan.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng tổng hợp các lý thuyết khoa học chuyên ngành và lý luận pháp lý:

  • Lý thuyết ngành tài chính - ngân hàng: Sử dụng các lý thuyết về trung gian tài chính, rủi ro thanh khoản, cấu trúc an toàn vốn để luận giải bản chất hoạt động ngân hàng thương mại.
  • Lý thuyết kinh tế học về thị trường tài chính - tiền tệ: Vận dụng quy luật cung - cầu, tính chất huyết mạch của nguồn vốn trong nền kinh tế để phân tích sự cần thiết của việc điều chỉnh pháp luật đối với xử lý tài chính.
  • Lý thuyết về tự do thỏa thuận trong góp vốn thành lập doanh nghiệp: Ứng dụng để phân tích việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các nhóm cổ đông (cổ đông lớn, cổ đông thiểu số) trong quá trình cơ cấu lại vốn và xử lý tranh chấp định giá cổ phần khi sáp nhập, hợp nhất.
  • Lý thuyết hợp đồng: Tiếp cận quan hệ pháp lý giữa ngân hàng thương mại với khách hàng gửi tiền, bên vay vốn, chủ thể nắm giữ giấy tờ có giá.
  • Lý thuyết về an toàn hệ thống tài chính: Khẳng định tính tất yếu của sự can thiệp từ phía Nhà nước bằng các công cụ pháp lý và quyền lực công nhằm ngăn ngừa rủi ro hệ thống và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.
  • Cơ sở lý luận về Nhà nước và pháp luật: Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chức năng quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước, kết hợp việc thể chế hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội XII.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận định tính, lấy phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai theo từng phần:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát hóa: Áp dụng trong Phần Tổng quan và Chương 1 để phân tích các tài liệu khoa học, giải mã khái niệm pháp lý và xây dựng khung lý thuyết.
  • Phương pháp so sánh luật học: Sử dụng trong Chương 1, Chương 2 và Chương 3 nhằm đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế (Basel II, Basel III) và kinh nghiệm xử lý tài chính, mô hình AMC của Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, Hoa Kỳ.
  • Phương pháp bình luận, phân tích quy phạm và lập luận pháp lý: Sử dụng chủ đạo trong Chương 2 để mổ xẻ thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh xử lý