Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý tài chính và pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại - Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại và nâng cao hiệu quả thực thi luan an 7 PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những công trình liên quan đến khái niệm tái cấu trúc ngân hàng thương mại, xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại Nội dung đầu tiên, quan trọng cần phải giải quyết khi nghiên cứu pháp luật về XLTC khi TCT các NHTM là khái niệm TCT NHTM và XLTC khi TCT NHTM. Bởi vì, nếu như nghiên cứu sinh không làm rõ được hai khái niệm này thì sẽ không xác định được hoặc xác định không chính xác các nội dung khác đặc biệt là nội dung của pháp luật về XLTC khi TCT các NHTM.
Thứ nhất, đối với khái niệm TCT NHTM, nghiên cứu sinh xin kế thừa những thành công của các công trình khoa học trước đó. Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu khoa học đều có những nhận định riêng về khái niệm này. Vì thế, tác giả vẫn phân tích và chỉ ra quan điểm của một số nhà khoa học nổi bất về khái niệm TCT NHTM. Cụ thể: Trong bài nghiên cứu: “Tiếp tục TCT hệ thống ngân hàng Việt Nam” đăng trên Tạp chí Khoa học đào tạo ngân hàng số 128/2013, hai tác giả Lê Thị Tuấn Nghĩa, Phạm Mạnh Hùng đã trình bày quan điểm của Ngân hàng thế giới về TCT ngân hàng như sau: “TCT ngân hàng bao gồm một loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng”.
Chúng ta cần lưu ý rằng, Ngân hàng thế giới đưa ra quan điểm về TCT ngân hàng nói chung chứ không chỉ riêng TCT NHTM. Khi đưa ra khái niệm TCT NHTM, Ngân hàng thế giới quan tâm nhiều tới mục tiêu của quá trình này. Chính khái niệm này đã giúp cho các nhà nghiên cứu trong đó có nghiên cứu sinh nhìn nhận được tổng quát về TCT ngân hàng nói chung và TCT NHTM nói riêng. Theo đó, đây là nhiệm vụ cấp bách giúp duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng.
Đồng thời trong bài viết này, hai tác giả Lê Thị Tuấn Nghĩa, Phạm Mạnh Hùng đã trình bày quan điểm của Claudia Dziobek (1998) và Ceyla Pazarbasioglu về TCT ngân hàng. Cụ thể: “TCT ngân hàng là biện pháp hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng”. Điều quan trọng nhất mà nghiên cứu sinh học hỏi được từ quan điểm của Claudia Dziobek (1998) và Ceyla Pazarbasioglu đó là xác định được những hoạt luan an 8 động cụ thể của TCT ngân hàng. Những hoạt động đó bao gồm: TCT tài chính, TCT hoạt động và giám sát an toàn.
Như vậy, TCT tài chính là một bộ phận quan trọng của TCT ngân hàng. Chính nhận thức này đã giúp nghiên cứu sinh xác định được mối quan hệ giữa XLTC và TCT NHTM. XLTC thành công góp phần rất lớn thúc đẩy quá trình TCT NHTM. Trong bài viết: “TCT hệ thống NHTM ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Phát triển và hội nhập số tháng 10/2013, tác giả Vũ Văn Thực đã đưa ra định nghĩa TCT NHTM như sau: “TCT NHTM là việc thay đổi một, một vài hoặc tất cả các phương diện ngồn vốn, tài sản, tài chính, cơ cấu tổ chức, tư duy quản lý, cách thức quản trị, điều hành… để giúp các NHTM hoạt động an toàn, lành mạnh, có hiệu quả”.
Theo quan điểm này, TCT NHTM có thể diễn ra với quy mô lớn nhưng cũng có thể diễn ra với quy mô nhỏ tùy thuộc vào từng NHTM cụ thể. Mục đích cuối cùng của hoạt động TCT NHTM đó là giúp các NHTM hoạt động an toàn, lành mạnh, có hiệu quả. Trong cuốn sách “TCT hệ thống tài chính ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2017), tác giả Lê Trung Thành phân tích định nghĩa TCT NHTM của Ủy ban Basel Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng. Theo đó: “TCT NHTM theo chuẩn mực Basel II là việc thay đổi, điều chỉnh các yếu tố liên quan như cấu trúc chiến lược, cấu trúc sở hữu, quản trị, tài chính, hoạt động và các thành phần khác… tạo nên cấu trúc tổng thể của NHTM cho phù hợp với các quy định của Hiệp ước Basel II”.
Như vậy, Ủy ban Basel đưa ra định nghĩa TCT NHTM dựa trên chuẩn mực mà Ủy ban này đã đưa ra. Các quốc gia là thành viên của hiệp ước khi thực hiện TCT NHTM cần phải quan tâm tới các chuẩn mực này như một nghĩa vụ quan trọng. Trong Luận án tiến sĩ kinh tế (năm 2014): “TCT hệ thống NHTM Việt Nam”, tác giả Nguyễn Quỳnh Hoa lập luận và đưa ra quan điểm về TCT NHTM như sau: “TCT NHTM là thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống NHTM nhằm mục đích duy trì sự phát triển ổn định (bền vững, an toàn) và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống NHTM trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng thanh toán và trung gian tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM”. Nhìn chung, quan điểm của tác giả Nguyễn Quỳnh Hoa có nhiều điểm giống so với các nhà khoa học khác.
Tuy nhiên, tác giả lại nhấn mạnh quá trình TCT NHTM nhằm khắc phục những khiếm khuyết của hệ thống NHTM. Với quan điểm như vậy, nghiên cứu sinh sẽ đặt ra câu hỏi vậy TCT NHTM chỉ đặt ra khi hệ thống NHTM có khiếm khuyết? Trong điều kiện hoạt động bình thường, ổn định thì NHTM có nhất thiết phải TCT không? luan an 9 John Hawkins và Philip Turner (1999), Bank restructuring in practice: An over view, Moneytary and economic Department Basel, Switzerland. Trong bài viết này, các tác giả phân tích tổng quát bản chất của quá trình TCT ngân hàng. Các tác giả đưa ra các lập luận nhằm xác định sự cần thiết phải TCT NHTM, bản chất của TCT NHTM, những nội dung cần thiết trong TCT NHTM… Những nội dung này trong bài viết có giá trị tham khảo rất lớn đối với nghiên cứu sinh.
Nghiên cứu sinh sẽ hiểu rõ được bản chất và những hoạt động chủ yếu trong quá trình TCT NHTM. Sau khi nghiên cứu một số quan điểm của các nhà khoa học đi trước về khái niệm TCT NHTM, nghiên cứu sinh thấy rằng tuy câu từ của mỗi định nghĩa có khác nhau nhưng về cơ bản nội dung có nhiều điểm tương đồng. Những điểm tương đồng đó là: - TCT NHTM là việc sửa chữa yếu kém để phát triển, thay đổi để phát triển mạnh hơn, tốt hơn và hoàn thiện hơn. TCT diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định chứ không phải trong suốt quá trình hoạt động của các NHTM.
- TCT NHTM bao gồm nhiều hoạt động như: TCT tài chính, TCT hoạt động sản xuất kinh doanh, TCT nhân sự… - Mục đích của TCT là làm cho các NHTM hoạt động hiệu quả hơn, an toàn hơn. Với những điểm kế thừa được của các công trình nghiên cứu đi trước về khái niệm TCT NHTM như vậy, nghiên cứu sinh sẽ lập luận và đưa ra khái niệm TCT NHTM của riêng mình. Thứ hai, về khái niệm XLTC khi TCT NHTM Khái niệm XLTC khi TCT NHTM, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào lập luận một cách sâu sắc để đưa ra khái niệm XLTC khi TCT NHTM. Vì thế, tác giả dự kiến sẽ phân tích từng khái niệm thành phần đó là: Xử lý là gì? Tài chính là gì? XLTC là gì? Và sau đó kết hợp với khái niệm TCT NHTM phân tích trước đó, nghiên cứu sinh sẽ đưa ra khái niệm XLTC khi TCT NHTM.
Đối với khái niệm xử lý, nghiên cứu sinh dự kiến sẽ xem trong Từ điển Tiếng Việt là phù hợp nhất. Bởi vì đây là khái niệm mang tính phổ thông chứ không phải là khái niệm của chuyên ngành nào đó. Khái niệm tài chính, nghiên cứu sinh dự kiến tham khảo những công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành kinh tế. Theo đó, trong bài viết: “Khái niệm về tài chính” đăng trên Website: quantri.vn, tác giả Đặng Thị Việt Đức và Phan Anh Tuấn đã phân tích và đưa ra khái niệm tài chính như sau: “Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị.
Phát sinh luan an 10 trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định”. Theo quan điểm này, hai tác giả muốn nhấn mạnh vào quá trình phân phối các nguồn của cải, vật chất trong xã hội. Tuy nhiên, trước khi đưa ra khái niệm này, hai tác giả cũng chỉ ra rằng: Nguồn tài chính không chỉ hình thành từ các quỹ tiền tệ mà còn từ những tài sản hiện vật có khả năng chuyển hóa thành tiền tệ. Những tài sản này khi cần có thể chuyển hóa thành tiền tệ để trở thành các nguồn tài chính.
Như vậy, nghiên cứu sinh cho rằng, khái niệm tài chính phải được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, tài chính sẽ là quá trình phân phối của cải vật chất. Theo nghĩa hẹp, tài chính là tiền tệ và những tài sản hiện vật có khả năng chuyển hóa thành tiền tệ. Và với đề tài: “Pháp luật về XLTC khi TCT NHTM ở Việt Nam”, nghiên cứu sinh sử dụng khái niệm tài chính theo nghĩa hẹp.
Trong Luận án tiến sĩ Kinh tế: “Giải pháp TCT tài chính các doanh nghiệp trong ngành thép ở Việt Nam” – Học viện Tài chính, năm 2016, tác giả Đặng Phương Mai đưa ra khái niệm TCT tài chính.