đặt vấn đề khái niệm về TCVM, cụ thể hướng tiếp cận theo xu hướng hoặc theo chương trình mục tiêu TCVM. Về bản chất, thì TCTCVM được định nghĩa là định chế tài chính trung gian, với hoạt động chính là cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cho đối tượng khách hàng là người nghèo, những người sản xuất nhỏ, các nhóm cá nhân kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ hoặc siêu nhỏ (Legerwood, 1999). Các tổ chức cung cấp các dịch vụ TCVM được gọi là các TCTCVM. Ờ chiều ngược lại, không phải tổ chức tài chính cũng được gọi là tổ chức TCVM, chỉ khi các tổ chức hoạt động chủ yếu cung cấp dịch vụ TCVM, tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu từ đây và thực hiện các sứ mạng, mục tiêu gắn liền với các tổ chức TCVM (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2010).
Như các định chế trung gian khác, các TCTCVM thực hiện chức năng trung gian tài chính như chủ thể độc lập trong nền kinh tế thị trường. Việc huy động vốn của các tổ chức TCVM là từ các nguồn khác nhau trong xã hội và sử dụng nguồn vốn đó cung cấp tín dụng cho người nghèo. Như vậy, có thể coi TCTCVM như là cầu nối, giúp người nghèo có thể tiếp cận được các nguồn vốn tín dụng, để họ thỏa mãn nhu cầu vốn và phát triển hoạt động kinh tế, từ đó nâng cao thu nhập và gia tăng tài sản. Ngay từ khi thành lập, thì nhiệm vụ quan trọng của TCTCVM phải giảm người nghèo, tăng thoát nghèo, giúp người có thu nhập thấp có khả năng tiếp cận với dịch vụ tài chính.
Khi khách hàng sử dụng các dịch vụ tài chính, thì các TCTCVM thu được lợi nhuận từ hoạt động này để duy trì và phát triển HĐKD, đồng thời khách hàng của chúng nâng cao vị thế trong xã hội, như chia sẻ kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, kỹ năng sống, đưa kinh tế gia đình thoát khỏi khó khăn v. cải thiện cuộc sống cho người nghèo. Các TCTCVM là các tổ chức tài chính chuyên biệt được thiết kế để cung cấp các dịch vụ tài chính cho các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ có thu nhập thấp, chủ 10 yếu ở các khu vực đang phát triển (Srinivasa, Babu. Sứ mệnh cốt lõi của họ là thúc đẩy hòa nhập tài chính bằng cách cung cấp các khoản vay nhỏ, tài khoản tiết kiệm và các sản phẩm bảo hiểm, qua đó giúp những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn cải thiện sinh kế và đạt được quyền năng kinh tế (Niels, Hermes.
Các TCTCVM đều hướng đến mục tiêu cân bằng các mục tiêu xã hội với tính bền vững về tài chính, đảm bảo họ có thể hoạt động hiệu quả mà không phụ thuộc quá nhiều vào các khoản đóng góp. Như vậy, trong nghiên cứu này TCTCVM được hiểu là các tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính như cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, và các sản phẩm tài chính khác cho những người có thu nhập thấp hoặc những người không có khả năng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng truyền thống. Mục tiêu chính của các tổ chức này là giúp đỡ các cá nhân hoặc doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt ở các khu vực nông thôn hoặc những nơi khó khăn, có cơ hội tiếp cận nguồn vốn và các dịch vụ tài chính để cải thiện cuộc sống và điều kiện kinh tế của họ. Vai trò của tổ chức tài chính vi mô TCVM đóng góp các vai trò quan trọng sau đây đối với nền kinh tế: Vai trò thứ nhất, TCVM góp phần đáng kể trong việc tăng thu nhập cho các hộ gia đình, dẫn đến bảo đảm lương thực, tích lũy tài sản, tự chủ trong HĐKD nhỏ và đặc biệt tiếp cận dịch vụ giáo dục.
TCVM góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ người nghèo tự thân hoạt động tự tạo thu nhập cho chính bản thân; nhờ đó nâng cao tính bền vững về kinh tế, hạn chế rủi ro trước những khó khăn bất ngờ trong cuộc sống như bệnh tật, thiên tai, biến đổi khí hậu. Vai trò thứ hai, TCVM là trở thành một trong những giải pháp xã hội trong việc nâng cao vị thế của phụ nữ .Tài chính vi mô với quan niệm cho rằng hoạt động phi lợi nhuận và quản lý bởi tổ chức phi lợi nhuận. Ở các quốc gia đang phát triển, dịch vụ TCVM quan tâm đến đại đa số là phụ nữ - những chủ thể được cho là có mức độ RRTD thấp, bởi họ có chữ tín cao hơn, họ là là người đi vay có khả năng trả nợ tốt hơn và đặc biệt họ tham gia vào hoạt động kinh tế để mang lại thu nhập trong gia đình của họ. Với khách hàng nữ, khi sử dụng dịch vụ tài chính này đã giúp họ cải thiện năng lực tài chính tốt hơn, mà còn giúp họ cải thiện các vấn đề trong 11 gia đình và ngoài xã hội, tăng lòng tự trọng, tự tin và có tiếng nói hơn, nhiều quyền ra quyết định hơn.
Vai trò thứ ba, Hoạt động TCVM góp phần rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, hướng tới một nền kinh tế phát triển hài hòa, tại các quốc gia đang phát triển. TCVM được xây dựng cho những nhóm đối tượng khác ngoài đối tượng phục vụ của các NHTM. Những người có mức sống thấp khi tiếp cận nguồn vốn của các TCVN sẽ có sự cải thiện về mức sống, đưa một hộ gia đình thoát nghèo và có cuộc sống tự chủ, độc lập. Việc các TCVM đã giải quyết vấn đề mang tính thiên niên kỷ đó là xóa đói, giảm nghèo không những giúp những người nghèo không những cải thiện tài chính mà cải thiện cả vị thế của họ trong xã hội.
Mục tiêu của các tổ chức tài chính vi mô Mục tiêu của các TCTCVM được đề cập chủ yếu thông qua mục tiêu tiếp cận cộng đồng mà tự bền vững hoạt động. Tiếp cận cộng đồng Singh và Padhi (2019) cho rằng tiếp cận cộng đồng của các TCTCVM được coi là một cơ chế công cụ hiệu quả để tạo điều kiện thuận lợi cho những bộ phận dân cư vốn trước đây thường bị loại khỏi các tổ chức tài chính chính thức. Woller và Schreiner (2004) cho rằng bản chất của cuộc tranh luận giữa mục tiêu bền vững hoạt động và mục tiêu tiếp cận cộng đồng là mối quan hệ giữa chiều sâu tiếp cận và tính bền vững hoạt động của TCTCVM. Nghiên cứu tập trung vào chiều sâu tiếp cận như là thước đo chính của lợi tức xã hội và lập luận rằng sự tiếp cận là nhiều chiều và mỗi chiều tạo thành một thước đo lợi nhuận xã hội riêng biệt.
Thuật ngữ tiếp cận chung bao hàm hai chiều: chiều sâu và chiều rộng của phạm vi tiếp cận. Theo nghiên cứu của Conning (1999) cho rằng tiếp cận cộng đồng thường được sử dụng để chỉ nỗ lực của các TCTCVM nhằm mở rộng các khoản vay và dịch vụ tài chính cho đối tượng ngày càng rộng hơn (phạm vi tiếp cận) và đặc biệt là đối với những người nghèo nhất (phạm vi tiếp cận sâu). Do đó, Brau và Woller (2004) cho rằng tiếp cận những người nghèo nhất là phạm vi tiếp cận theo chiều sâu, nhưng tiếp cận số lượng lớn khách hàng ngay cả khi họ tương đối ít nghèo hơn là phạm vi tiếp cận rộng. Nghiên cứu của Hermes, Lensink và cộng sự.
(2011) 12 cho rằng tiếp cận cộng đồng là cung cấp tín dụng cho những người nghèo không có khả năng tiếp cận với các ngân hàng thương mại, để giảm nghèo và giúp họ thành lập các doanh nghiệp tạo thu nhập của riêng mình. Bassem (2008) đã bổ sung yếu tố nữ giới đi vay như một chỉ số về khả năng tiếp cận cộng đồng của các TCTCVM. Bởi lẽ khách hàng chính của các TCTCVM đa phần phụ nữ. Schreiner (2002) đưa ra định nghĩa toàn diện hơn về phương thức tiếp cận và phương pháp tiếp cận được đề xuất có sáu khía cạnh: giá trị tiếp cận, chi phí tiếp cận, phạm vi tiếp cận, độ dài tiếp cận, độ sâu tiếp cận và chiều rộng tiếp cận.
Đo lường mục tiêu tiếp cận cộng đồng Do mục tiêu tiếp cận cộng đồng của TCTCVM có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên sẽ có nhiều cách đo lường khác nhau. Nghiên cứu của Kereta (2007) cho rằng mục tiêu tiếp cận cộng đồng thể hiện qua số lượng khách hàng đang được tiếp cận phục vụ bởi một TCTCVM được ghi nhận, được xem như là một chỉ số hoạt động cốt lõi cho một TCTCVM. Luo và Rahman (2010) cho rằng tiếp cận TCVM đề cập đến khả năng của các TCTCVM cung cấp khả năng tiếp cận tài chính và phi tài chính cho một số lượng lớn những người đi vay bị từ chối tiếp cận trước đây. Tác giả nêu lên bảy nhân tố đo lường mức độ tiếp cận của TCTCVM : (1) giá trị danh mục dư nợ và giá trị trung bình của các khoản cho vay được gia hạn; (2) số tiền tiết kiệm và giá trị trung bình của tài khoản tiết kiệm; (3) sự đa dạng của các dịch vụ tài chính được cung cấp; (4) số lượng nhóm cho vay; (5) tỷ lệ phần trăm tổng dân số nông thôn được phục vụ; (6) tài sản của TCTCVM tăng trưởng hàng năm trong những năm gần đây và trong điều kiện thực tế và (7) Sự tham gia của phụ nữ.
Nghiên cứu của Yaron (1992) cho rằng qua thời gian, các biện pháp ước lượng mục tiêu tiếp cận cộng đồng ngày càng được mở rộng, tinh chỉnh hoặc phân loại. Nghiên cứu của Navajas, Schreiner và cộng sự (2000) đề xuất sáu khía cạnh để đo lường khả năng tiếp cận: (1) độ sâu tiếp cận, (2) giá trị tiếp cận với người dùng, (3) chi phí cho người dùng, (4) độ rộng, (5) độ dài và (6) phạm vi. Các khía cạnh chi tiết như sau: Độ sâu tiếp cận: Là mức độ tiếp cận sâu là giá trị mà xã hội nó thể hiện người đi vay, người sử dụng dịch vụ TCVM đã nhận được lợi ích gì cho họ. Vì xã hội đặt 13 nặng người nghèo hơn người giàu nên mức độ tiếp cận hộ nghèo là một đại diện tốt cho chiều sâu.
Xã hội có khả năng đánh giá lợi ích từ một khoản cho vay nhỏ cho một đứa trẻ đường phố hoặc cho một góa phụ nhiều hơn lợi nhuận tương tự đối với một người giàu hơn. Tuy nhiên, tiếp cận sâu hơn thường làm tăng giá trị xã hội mà lại làm tăng chi phí xã hội. Khi thu nhập và của cải giảm, người cho vay sẽ phải trả nhiều chi phí hơn để đánh giá rủi ro của khoản vay. Nghiên cứu của Conning (1999) cho rằng điều này xảy ra vì so với người giàu, khả năng trả nợ của người nghèo không đồng nhất và ít có khả năng thể hiện sẵn sàng trả nợ.