Chương 1 - Tổng quan nghiên cứu: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu; xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu; trình bày bố cục toàn bài nghiên cứu. Chương 2 – Cơ sở lý thuyết: Trong chương này, tác giả tiến hành thu thập, nghiên cứu các kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài khóa bền vững và đo lường tính bền vững của chính sách tài khóa thông qua các nội dung về thâm hụt ngân sách, nợ công, tính bền vững chính sách tài khóa. Lược khảo lại các nghiên cứu về chính sách tài khóa bền vững đã được thực hiện trước đây. Chương 3 – Phương pháp và mô hình nghiên cứu: Chương này diễn giải các vấn đề về lựa chọn mô hình cũng như phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu.
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm bằng phương pháp định lượng. Chương 5 – Kết luận và gợi ý chính sách: Chương này trình bày kết luận của bài nghiên cứu và một số gợi ý giải pháp về những việc rút ra từ kết quả nghiên cứu nhằm định hướng rõ ràng hơn các giải pháp nhằm cải thiện và hướng đến chính sách tài khóa bền vững và chất lượng thể chế. 123doc 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Lý thuyết về nợ công 2.
Khái niệm về nợ công Nợ công có thể hiểu một cách đơn giản là nợ của khu vực công, xuất phát từ nhu cầu chi tiêu công quá lớn của chính phủ. Chính phủ một quốc gia chi tiêu công nhằm nhiều mục đích như đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội, phân bổ nguồn lực, phân phối lại thu nhập, đầu tư công vào các công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm. Tuy vậy, nhu cầu thì vô hạn, nguồn lực thì hữu hạn. Khi các nguồn thu của chính phủ không đáp ứng, trang trải được nhu cầu quá lớn buộc chính phủ phải đi vay nợ thông qua nhiều hình thức (phát hành công trái, trái phiếu…) và vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại hoặc các định chế tài chính quốc tế… để bù vào khoản thâm hụt, từ đó dẫn đến tình trạng nợ công.
Hiện nay có khá nhiều cách định nghĩa về nợ công và vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về nợ công. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB, 2002), nợ công được định nghĩa là tổng tất cả các khoản nợ trong nước và nợ nước ngoài của khu vực công, bao gồm chính phủ ở trung ương và các bộ, ban, ngành; các tỉnh, thành phố hoặc các cấp chính quyền địa phương tương đương; các cơ quan nhà nước tự điều hành như doanh nghiệp nhà nước hoặc các doanh nghiệp liên doanh với tư nhân mà nhà nước sở hữu phần lớn; các nghĩa vụ nợ của các tổ chức công khác dù có sự bảo đảm hay không bảo đảm của chính phủ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF, 2010) thì định nghĩa nợ công là nợ của khu vực công (bao gồm chính phủ và các tổ chức công khác). Khái niệm nợ công của Việt Nam theo Luật quản lý nợ công năm 2017 xem nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
Trong đó, nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh nhà nước, nhân danh chính phủ. Nợ được chính phủ bảo lãnh là nợ doanh nghiệp, ngân hàng chính sách của nhà nước 123doc 5 vay được chính phủ bảo lãnh. Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ phát sinh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay. Như vậy, định nghĩa về nợ công của Việt Nam khá sát với định nghĩa của WB, cách hiểu này hẹp hơn so với định nghĩa nợ công của IMF.
Một cách khái quát nhất, có thể hiểu nợ công là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách và chính phủ phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản vay đó. Do đó, có thể xem nợ công là thâm hụt ngân sách lũy kế tính đến một thời điểm nào đó. Để hình dung quy mô của nợ công, người ta thường đo lường xem khoản nợ này chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm so với GDP. Phân loại nợ công Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí mang một ý nghĩa khác nhau trong việc quản lý và sử dụng nợ công.
Các tiêu chí để phân loại nợ công hiện nay có thể kể đến gồm: Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay, nợ công gồm có hai loại là nợ trong nước và nợ nước ngoài. Nợ trong nước là nợ mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức trong nước. Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là chính phủ nước ngoài, các vùng lãnh thổ, các tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài. Theo phương thức huy động vốn, nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ.
Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay. Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay được thỏa thuận giữa chính phủ các nước. Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn. Các công cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính.
123doc 6 Theo trách nhiệm đối với chủ nợ, nợ công được phân loại thành nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh. Nợ công phải trả là các khoản nợ mà chính phủ và chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ. Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ. Theo cấp quản lý, nợ công được phân loại thành nợ công của chính quyền trung ương và nợ công của chính quyền địa phương.
Nợ công của chính quyền trung ương là các khoản nợ của chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh. Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ. Theo thời hạn cho vay, nợ công vay dưới 01 năm là nợ ngắn hạn, dưới 10 năm là nợ trung hạn và trên 10 năm là nợ dài hạn. Đặc trưng, bản chất và tác động kinh tế của nợ công 2.
Đặc trưng của nợ công Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng cơ bản, nợ công có những đặc trưng chủ yếu sau: Thứ nhất, nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của nhà nước, buộc nhà nước phải trả nợ trực tiếp hoặc trả nợ gián tiếp. Trả nợ trực tiếp là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay và có trách nhiệm trả nợ. Trả nợ gián tiếp là trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thể nào đó trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh. Thứ hai, nợ công được quản lý theo những quy định, quy trình chặt chẽ với sự tham gia của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo khả năng trả nợ và đạt hiệu quả khi sử dụng nguồn vay đó.
123doc 7 Thứ ba, mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích chung chứ không vì lợi ích riêng của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Bản chất của nợ công Vay nợ là một biện pháp huy động nguồn vốn cho phát triển, đem lại nhiều tác động tích cực cho nền kinh tế của các nước đi vay. Những nền kinh tế lớn trên thế giới như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản… đều có những khoản vay nợ rất lớn. Nợ công có nhiều tác động tích cực, nhưng cũng có không ít tác động tiêu cực.
Tác động tích cực thứ nhất là nợ công làm gia tăng nguồn lực cho quốc gia, tăng cường nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế. Thứ hai, nợ công giúp tận dụng được nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong dân cư. Với nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư của người dân, thông qua việc nhà nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư. Thứ ba, nợ công tận dụng nguồn lực từ nước ngoài (chính phủ nước ngoài, các định chế tài chính, tổ chức trên khắp thế giới).
Bên cạnh những tác động tích cực, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực, gây áp lực lên chính sách tiền tệ. Nếu kỷ luật tài chính, ngân sách lỏng lẻo, thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí. Tình trạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quả đầu tư và giảm nguồn thu ngân sách nhà nước. Ngoài ra, việc sử dụng nguồn vay không hiệu quả khiến cho nguồn lợi thu được trong tương lai không được đảm bảo, đe dọa khả năng thanh toán và nguy cơ gây vỡ nợ.
Về bản chất, nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp. Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác. Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách.
Tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một phần nào đó về 123doc 8 mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công, mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ công còn phụ thuộc vào tình trạng phát triển của nền kinh tế. Khi xét đến nợ công, không chỉ cần quan tâm tới tổng nợ, nợ hàng năm phải trả mà phải quan tâm nhiều tới rủi ro và cơ cấu nợ, vấn đề quan trọng phải tính là khả năng trả nợ và rủi ro trong tương lai, chứ không chỉ là con số tổng nợ công/GDP.