CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ LÃI SUẤT 1. MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ LÃI SUẤT Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lãi suất là một vấn đề được nghiên cứu khá rộng rãi trên cả phương diện lý thuyết và kiểm định thực nghiệm. Liên quan đến mối quan hệ này, các quan điểm của các trường phái kinh tế khác nhau cũng rất khác nhau. Trường phái tân cổ điển cho rằng tăng thâm hụt hiện tại sẽ kéo theo sự gia tăng về gánh nặng thuế trong tương lai.
Theo đó, người tiêu dùng sẽ có xu hướng tăng tiêu dùng tại thời điểm hiện tại. Do đó, trong trường hợp này, tiết kiệm quốc gia sẽ giảm xuống. Khi tiết kiệm quốc gia giảm, lãi suất trên thị trường sẽ tăng và lãi suất tăng sẽ làm giảm đầu tư, qua đó tạo ra hiện tượng thoái lui đầu tư (crowding out). Vì thế, trường phái này cho rằng tăng thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
Trường phái này còn cho rằng nếu như việc tài trợ thâm hụt ngân sách thông vay nợ trong nước sẽ gây áp lực làm tăng lãi suất trong nền kinh tế, do vậy sẽ làm giảm đầu tư của khu vực tư nhân. Theo đó, tăng thâm hụt ngân sách có thể dẫn đến tăng giá và giảm sản lượng sản xuất trong nền kinh tế. Một giải thích khác là khi chính phủ vay nợ trên thị trường trong nước, lãi suất sẽ bị đẩy lên và khi mặt bằng lãi suất bị đẩy lên, khu vực tư nhân sẽ giảm nhu cầu huy động vốn của mình, theo đó sẽ hạn chế đến sự mở rộng sản xuất của khu vực tư nhân. Hay nói cách khác, sự gia tăng về cầu của chính phủ thông qua tăng chi tiêu (tăng thâm hụt ngân sách) đã “chèn lấn” cầu khu vục tư nhân (Saleh, 2003).
Trong khi đó, trường phái Keynes lại cho rằng tăng thâm hụt ngân sách sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Khi chính phủ tăng chi ngân sách từ 123doc 11 nguồn thâm hụt thì tổng cầu của nền kinh tế sẽ tăng lên, làm cho các nhà đầu tư tư nhân trở nên lạc quan hơn về triển vọng kinh tế và sẽ quan tâm hơn đến việc tăng đầu tư. Trong trường hợp khác, nếu chính phủ chấp nhận thâm hụt thông qua việc giảm thuế thì thu nhập khả dụng của khu vực hộ gia đình cũng tăng lên. Theo đó, người dân sẽ tăng chi tiêu.
Tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên. Trường phái Keynes lập luận rằng mặc dù tăng thâm hụt ngân sách có thể tăng lãi suất song vẫn có thể tăng được mức tiết kiệm và đầu tư, qua đó tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, các nhà kinh tế theo trường phái này cũng cho rằng tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế chỉ có ý nghĩa trong ngắn hạn. Hơn nữa, việc sử dụng thâm hụt ngân sách để kích thích tăng trưởng chỉ có thể mang lại hiệu quả trong bối cảnh tổng cầu sụt giảm (ví dụ như trường hợp xảy ra suy thoái).
Khi mà nền kinh tế đang hoạt động ở mức toàn dụng nhân công (không có dư thừa về các yếu tố sản xuất), việc tăng thâm hụt ngân sách không những không có tác động đến tổng cầu mà còn có nguy cơ đưa nền kinh tế trước những rủi ro mới, trong đó đáng kể nhất sẽ là sự gia tăng về sức ép lạm phát. Khác với hai trường phái nói trên, quan điểm của trường phái Ricardo cho rằng, thâm hụt ngân sách không tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô cả trong ngắn hạn và dài hạn. Theo trường phái này ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và thuế đối với tiêu dùng là tương đương nhau. Việc tăng thâm hụt ngân sách do giảm thuế ở thời điểm hiện tại sẽ phải trả giá bằng việc tăng thuế trong tương lai, bao gồm cả trả lãi cho khoản vay.
Do vậy thâm hụt ngân sách dẫn đến vay nợ trong hiện tại sẽ đồng nghĩa với việc tăng thuế trong tương lai. Với hàm ý này, người tiêu dùng trong thời điểm hiện tại sẽ tiết kiệm một khoản cần thiết để trả cho tương lai. Nói cách khác, người tiêu dùng thường dự đoán tương lai, quyết định tiêu dùng của họ không chỉ dựa vào thu nhập hiện tại mà còn dựa vào thu nhập kỳ vọng trong tương lai. Theo trường phái Ricardo, thâm hụt ngân sách sẽ không có tác động đến tiết kiệm và đầu tư.
Theo họ khi thâm hụt ngân sách tăng do giảm thuế thì thu nhập khả dụng của người dân tăng lên, hơn nữa người dân ý thức được cắt giảm thuế trong hiện tại sẽ dẫn đến tăng thuế trong tương lai, do vậy họ sẽ tiết kiệm nhiều hơn. 123doc 12 Trong khi đó, thâm hụt ngân sách làm cho tiết kiệm của khu vực nhà nước giảm xuống. Theo đó, tiết kiệm quốc gia được hiểu là tổng của tiết kiệm tư nhân và tiết kiệm của nhà nước sẽ không đổi. Do vậy, thâm hụt ngân sách sẽ không tác động đến tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng (và cả lạm phát) như lập luận của các trường phái nói trên (Saleh, 2003)1.
Xét dưới góc độ lý thuyết cũng có hai trường phái về tác động của thâm hụt ngân sách đối với lãi suất. Trường phái Keynes và trường phái tân cổ điển cho rằng thâm hụt ngân sách tăng sẽ làm tăng lãi suất do cầu về tiền tăng. Trong khi đó, trường phái Ricardo lại cho rằng thâm hụt ngân sách không tác động đến lãi suất (vì các lý do như phân tích trong phần trên). Theo trường phái thứ nhất thì quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lãi suất thường là quan hệ thuận chiều, điều ngày có nghĩa là khi thâm hụt ngân sách tăng thì lãi suất cũng tăng.
Thâm hụt tăng cũng đồng nghĩa với nhu cầu huy động vốn của chính phủ tăng. Nếu như một phần của số vốn cần huy động để bù đắp cho thâm hụt được thực hiện thông qua thị trường nợ trong nước thì cầu về vốn trong nước sẽ tăng, qua đó sẽ làm gia tăng sức ép đối với mặt bằng lãi suất trong nước. Trong trường hợp này, ngân hàng trung ương có thể bắt buộc phải giảm sức ép gia tăng về lãi suất thông qua chính sách tiền tệ mở rộng. Trường hợp ngân hàng trung ương không can thiệp thì áp lực đối với lãi suất là không thể tránh khỏi.
Tương tự như các biến số nói trên, mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với lãi suất cũng đã được bàn luận khá nhiều trong các nghiên cứu kiểm định thực tiễn. Kết quả là cũng các nghiên cứu khác nhau cũng đưa ra các kết luận khác nhau về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lãi suất. Trong khi có nhiều nghiên cứu đưa ra bằng chứng chứng minh thâm hụt ngân sách tăng sẽ tác động đến lãi suất, ví dụ như nghiên cứu của Al-Saji (1993) về trường hợp của Anh, song cũng có nghiên 1 Saleh , AS (2003) , The Budget Deficit and Economic Performance : A Survey, Working paper 03-21, Deparment of Economic, University of Wollongong. 123doc 13 cứu đưa ra các bằng chứng cho thấy thâm hụt ngân sách không tác động đến lãi suất, ví dụ nghiên cứu của Evan (1985)2.
MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH LÊN LÃI SUẤT Trong bài nghiên cứu của hai tác giả Aisen và Hauner ( 2008): “ Budget Deficits anh Interest Rates : Fresb perspective, IMF”, đã ứng dụng phương pháp GMM chạy phương trình hồi qui nhằm đo lường sự tác động của thâm hụt ngân sách đối với lãi suất ở 60 quốc gia tiên tiến và mới nổi giai đoạn 1970-2007 , thông qua 7 biến : lãi suất danh nghĩa dài hạn nước ngoài, khấu hao dự kiến, rũi ro quốc gia, lãi suất danh nghĩa trong nước, lạm phát, cung tiền, thâm hụt ngân sách, tăng trưởng GDP thực. Theo phương trình sau : ∗ , = + ∗ , + ∗ , + ∗ , + ∗ , + ∗ , + ∗ , + ∗ ∗ , + ∗ , + ,′. NHỮNG BẰNG CHỨNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 1. Tóm lược những quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới về sự tác động của thâm hụt ngân sách lên lãi suất Aisen và Hauner (2008) nghiên cứu thâm hụt ngân sách và lãi suất bằng cách sử dụng phương trình hồi qui với dữ liệu thu thập từ 1970- 2007 của 60 quốc gia tiên tiến và đang nổi lên các biến được xem xét trong mô hình gồm lãi suất danh nghĩa nước ngoài, dự kiến khấu hao, rũi ro của quốc gia (đặc điểm rũi ro của quốc gia) lãi suất danh nghĩa trong nước, lạm phát dự kiến, cung tiền, tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ tiết kiệm, thâm hụt ngân sách, theo phương trình hồi qui: ∗ , = + ∗ , + ∗ , + ∗ , + ∗ , + ∗ , + ∗ , + ∗ ∗ , + ∗ , + ,′.
2 Trích dẫn từ Saleh , AS (2003). 123doc 14 Mức độ thâm hụt ảnh hưởng đến lãi suất sẽ phụ vào nhiều yếu tố (1) : Mức chu chuyển vốn, mức chu chuyển vốn tăng có nghĩa là điều chỉnh thâm hụt ngân sách cao hơn xảy ra thông qua tỷ lệ trao đổi và thông qua lãi suất thực trong nước cao hơn; (2): Mức độ thâm hụt ngân sách được tài trợ trong và ngoài nước: (3) Nó sẽ phụ thuộc vào mức độ nắm giữ nợ trung lập; Cuối cùng, nó phụ thuộc vào mức độ lãi suất thị trường xác định ở nợ đầu tiên. Kết quả ước lượng cho thấy khi kiểm tra tác động biên của các biến độc lập đến lãi suất, có một vài hệ số, chẳng hạn như thâm hụt ngân sách và lạm phát có khả năng bị đa cộng tuyến. Duy nhất có sự chuyển ngược lãi suất trên thâm hụt ngân sách, thêm biến phụ thuộc trễ và biến giả thời gian.
Kết quả là sự gia tăng thâm hụt ngân sách bằng 1% của GDP làm tăng tỷ lệ lãi suất lên 44 điểm cơ bản. Khi áp dụng đặc điểm kỹ thuật gọi là đường cơ sở, tổng thể đạt yêu cầu theo kiểm tra của Arellane- Bond và Hansen, cho thấy rằng cần lưu ý một số các hiệu ứng thâm hụt ngân sách khi thêm các biến số khác.