phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết thông qua sự tự nguyện công bố thông tin trên bản thuyết minh báo cáo tài chính. Chƣơng 2: Thực trạng về sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết thông qua sự tự nguyện công bố thông tin trên bản thuyết minh báo cáo tài chính. Chƣơng 3: Các giải pháp để nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết thông qua tự nguyện công bố thông tin trên bản thuyết minh báo cáo tài chính. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THÔNG QUA SỰ TỰ NGUYỆN CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BẢN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH.1 Thông tin tài chính và sự minh bạch thông tin tài chính 1.1 Thông tin tài chính 1.1 Khái niệm thông tin tài chính Trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi, vì thông tin tài chính là kết quả của quá trình tạo lập và công bố trên các báo cáo tài chính, do vậy khi đề cập đến thông tin tài chính thì đồng nghĩa với thông tin trên các báo cáo tài chính, do đó hai cụm từ “thông tin tài chính” và thông tin trên các báo cáo tài chính” là tƣơng đồng.
Thông tin tài chính là thông tin có đƣợc thông qua các báo cáo tài chính (nhƣ thông tin về doanh thu, lợi nhuận, các khoản phải thu, phải trả.) do doanh nghiệp cung cấp và chủ yếu thu thập từ bộ phận kế toán thông qua các báo cáo tài chính gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lƣu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Về việc công bố thông tin tài chính phải tuân theo thông tƣ 09/2010/TT-BTC thì: + Để công bố các thông tin tài chính phải lập trang thông tin điện tử với đầy đủ các chuyên mục về quan hệ cổ đông, trong đó phải có điều lệ công ty, quy chế quản trị nội bộ, báo cáo thƣờng niên, báo cáo tài chính định kỳ phải công bố theo quy định và các vấn đề liên quan đến kỳ họp Đại hội đồng cổ đông. + Việc công bố báo cáo tài chính, tổ chức niêm yết phải công bố báo cáo tài chính năm đã đƣợc kiểm toán, báo cáo tài chính bán niên (6 tháng đầu năm) đã đƣợc soát xét bởi tổ chức kiểm toán và báo cáo tài chính quý. Các tổ chức niêm yết phải báo cáo giải trình khi cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 10 phiên liên tiếp; hoặc tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp mà không theo xu thế chung của thị trƣờng, thay vì các tổ chức niêm yết phải giải trình khi cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp nhƣ trƣớc đây.
Vào ngày 5 tháng 4 năm 2012, Bộ tài chính đã ban hành thông tƣ 52 thay thế cho thông tƣ 09 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2012, nhƣ vậy thì có những điểm khác biệt giữa hai thông tƣ này về việc công bố thông tin nhƣ sau: 7 Thông tƣ 52 bỏ quy định khi giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp mà không theo xu hƣớng chung của thị trƣờng thì tổ chức niêm yết phải công bố các sự kiện liên quan có ảnh hƣởng đến biến động giá cổ phiếu. Chỉ có công ty niêm yết và công ty đại chúng quy mô lớn (vốn điều lệ thực góp từ 120 tỷ đồng trở lên, có số lƣợng cổ đông không thấp hơn 300 cổ đông) mới phải công bố thông tin bất thƣờng khi giá cổ phiếu niêm yết tăng trần hoặc giảm sàn từ 10 phiên liên tiếp trở lên. Điểm mới trong thông tƣ 52 là các công ty đại chúng quy mô lớn (vốn điều lệ thực góp từ 120 tỷ đồng trở lên, có số lƣợng cổ đông không thấp hơn 300 cổ đông) sẽ phải tuân thủ các quy định công bố thông tin nhƣ đối với doanh nghiệp niêm yết, nhằm minh bạch thông tin đối với thị trƣờng. Với thông tin nghiêm trọng, các doanh nghiệp phải công bố thông tin hoặc ðính chính thông tin trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận ðýợc thông tin hoặc theo yêu cầu từ Ủy ban chứng khoán.
Ðối với các báo cáo tài chính kiểm toán nãm, thời gian tối ða ðể doanh nghiệp công bố ðýợc rút ngắn, từ 100 ngày kể từ khi kết thúc niên ðộ xuống 90 ngày. Ðối với báo cáo tài chính bán niên (6 tháng), thời gian nộp báo cáo tài chính soát xét là 45 ngày.2 Vai trò của thông tin tài chính Thị trƣờng chứng khoán ngày càng trở nên quan trọng, yêu cầu có đƣợcthông tin hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp của các nhà đầu tƣ, nhà tài trợ,Hội đồng quản trị, cổ đông góp vốn …, thông tin tài chính của doanh nghiệp phảiđƣợc cung cấp đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời, chính xác và trung thực. Vai trò của thông tin tài chính đặc biệt quan trọng, có thể nęu một vŕi vai trň phổ biến nhƣ sau: Thứ nhất: Thông tin tài chính đóng một vai trò quan trọng trong quy trình xác định giá trị cổ phiếu. Để đánh giá triển vọng của doanh nghiệp thì phải phân tích và đánh giá các thông tin tài chính hiện tại và quá khứ, vì vậy chất lƣợng thông tin tài chính, phần lớn đƣợc phản ánh trong báo cáo tài chính có ảnh hƣởng đáng kể đến kết quả định giá cổ phiếu.
8 Thứ hai: Dựa vào thông tin tài chính đƣợc công bố trên báo cáo tài chính, nhất là các thông tin quan trọng mà nhà đầu tƣ chỉ có thể tìm thấy trong bản thuyết minh báo cáo tài chính để đánh giá một doanh nghiệp trong môi trƣờng kinh doanh đang có nhiều thay đổi nhƣ hiện nay, chẳng hạn đánh giá triển vọng của ngành nghề, lợi thế cạnh tranh và chiến lƣợc của doanh nghiệp để phát triển ngành nghề đó. Bởi vì thành phần chủ yếu của thuyết minh báo cáo tài đƣợc chia thành: (1) Thông tin về doanh nghiệp: nhà đầu tƣ sẽ quan tâm tới đặc điểm hoạt đông của doanh nghiệp trong năm có ảnh hƣởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. (2) Chuẩn mực và chế độ kế toán, kỳ kế toán và đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán. (3) Các chính sách kế toán đang áp dụng: Các số liệu kế toán bị ảnh hƣởng rất nhiều bởi một phƣơng pháp kế toán mà doanh nghiệp đang áp dụng, các phƣơng pháp kế toán đƣợc nêu cụ thể giúp nhà phân tích có cái nhìn đầy đủ và rõ ràng hơn về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
(4) Thông tin bổ sung cho các khoản mục trong báo cáo tài chính. Phần này cung cấp thêm chi tiết, các khía cạnh đặc biệt của một khoản mục mà ngƣời sử dụng thông tin cần phải biết để hiểu rõ khoản mục đó. (5) Những thông tin khác. Phần này thƣờng nằm ở cuối bản thuyết minh báo cáo tài chính, nhƣng nó không kém phần quan trọng.
Các thông tin mà nhà phân tích, nhà đầu tƣ cần lƣu ý bao gồm: các khoản nợ tiềm tàng, các cam kết có giá trị lớn, sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán, thông tin về các bên liên quan, thông tin về khả năng hoạt động liên tục, các khoản điều chỉnh số liệu so sánh… Thứ ba: Thông tin trên báo cáo tài chính đƣợc lập và trình bày nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu thông tin thông thƣờng của hầu hết ngƣời sử dụng. Tuy nhiên, các báo cáo tài chính không cung cấp tất cả các thông tin mà ngƣời sử dụng cần để tiến hành các quyết định kinh tế vì phần lớn chúng phản ánh các tác động tài chính của các sự kiện trong quá khứ và không cung cấp các thông tin phi tài chính. Mục tiêu của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin về tình trạng tài chính, thành quả thực hiện, dòng lƣu chuyển tiền và những thay đổi trong tình trạng 9 tài chính của một tổ chức, các thông tin này hữu ích cho nhiều ngƣời sử dụng trong việc tiến hành ra các quyết định kinh tế. Để thông tin tài chính trở nên hữu ích, theo quan điểm của Tổ chức nghiên cứu kế toán Úc (AARE), thông tin tài chính trở nên hữu ích thể hiện qua các đặc tính chất lƣợng, bao gồm: tính phù hợp và đáng tin cậy (đối với việc lựa chọn thông tin tài chính), tính có thể so sánh được và tính có thể hiểu được (đối với việc trình bày thông tin tài chính).
Cụ thể: - Tính phù hợp (Relevance) Có nghĩa là chất lƣợng của thông tin tài chính nó tồn tại khi mà thông tin đó ảnh hƣởng đến việc ra quyết định bởi ngƣời dùng về việc phân bổ các nguồn tài nguyên khan hiếm bằng cách: (1) Giúp cho họ hình thành những dự báo về kết quả trong quá khứ hoặc những sự kiện tƣơng lai; (2) Xác nhận hoặc hiệu chỉnh các đánh giá trong quá khứ của họ; (3) Cho phép ngƣời sử dụng thông tin có thể đánh giá trách nhiệm của ngƣời ngƣời cung cấp thông tin. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà đầu tƣ, tổ chức cho vay và không kém phần quan trọng đối với các đối tƣợng sự dụng báo cáo tài chính khác. Đối với thông tin tài chính mang tính phù hợp thì nó phải có giá trị về việc hỗ trợ ngƣời sử dụng thông tin đó để đƣa ra và đánh giá những quyết định của mình về việc phân bổ các nguồn tài nguyên khan hiếm và đánh giá trách nhiệm của ngƣời cung cấp thông tin. Thực ra, bản thân thông tin không phải là một dự báo về kết quả hay sự kiện tƣơng lai để trở nên hữu ích, mà chính các thông tin về tình trạng hiện tại của các nguồn lực kinh tế, các nghĩa vụ pháp lý và hiệu quả hoạt động trong quá khứ đƣợc trình bày mới là nền tảng để ngƣời sử dụng có thể thiết lập các kỳ vọng.
“Các thông tin đó để giúp ngƣời sử dụng đƣa ra những quyết định của mình về việc phân bổ các nguồn tài nguyên khan hiếm thì nó phải hỗ trợ họ trong việc đƣa ra các dự đoán về những tình huống trong tƣơng lai và hình thành những kỳ vọng và phải đóng góp một vai trò khẳng định trong việc tôn trọng các đánh giá trong quá khứ của họ.