Chương I: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương II: Lý luận chung về tổ chức kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp Chương III: Thực trạng tổ chức kế toán tại Cục Dự trữ Nhà nước vực Hà Nội Chương IV: Thảo luận kết quả nghiên cứu, một số giải pháp hoàn thiện và kết luận 5 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 2.1 Khái niệm, yêu cầu và nhiệm vụ của tổ chức kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp 2.1 Khái niệm về đơn vị hành chính sự nghiệp: Theo Điều 9 của Luật Viên chức quy định về đơn vị sự nghiệp công lập thì “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. Đơn vị sự nghiệp công lập gồm: - Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ); - Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa giao quyền tự chủ). Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại khoản 2 Điều này đối với từng lĩnh vực sự nghiệp căn cứ vào khả năng tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và phạm vi hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập. Căn cứ điều kiện cụ thể, yêu cầu quản lý đối với mỗi loại hình đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực, Chính phủ quy định việc thành lập, cơ cấu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập, mối quan hệ giữa Hội đồng quản lý với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
Như vậy đơn vị sự nghiệp là đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nghuồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao theo từng giai đoạn. Nhiệm vụ của tổ chức kế toán trong đơn vị sự nghiệp: Kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN) là kế toán chấp hành Ngân sách Nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp và cơ quan hành chính các cấp. Kế toán HCSN là công việc tổ chức hệ thống thông tin bằng số liệu để quản lý và kiểm soát ngồn kinh phí, tình hình sử dụng, quyết toán chi phí. Tình trang quản lý và sử dụng các loại vật tư, tài sản công, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và thực hiện các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước tại đơn vị.
Các nhiệm vụ chủ yếu của kế toán HCSN: - Ghi chép và phản ánh một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ và có hệ thống tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình hình thành kinh phí và sử dụng nguồn kinh phí, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị. - Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành dự toán thu, chi; tình hình thực hiện các chi tiêu kinh tế tài chính và các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước, kiểm tra việc quản lý, sử dụng các loại vật tư tài sản ở đơn vị, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật thu, nộp ngân sách, chấp hành kỷ luật thanh toán và chế độ chính sách của Nhà nước. - Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị dự toán cấp dưới, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và quyết toán của các đơn vị cấp dưới. - Lập và nộp đúng thời hạn báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính theo quy định, cung cấp thông tin và tài liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng dự toán, xấy dựng các định mức chi tiêu, phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí ở đơn vị.
Yêu cầu tổ chức kế toán trong các đơn vị sự nghiệp Tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu sau: - Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác và toàn diện mọi khoản vốn, quỹ, kinh phí, tài sản và mọi hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh ở đơn vị. 7 - Chi tiêu kinh tế phản ánh phải thống nhất với dự toán về nội dung và phương pháp tính toán. - Số liệu trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo cho các nhà quản lý có được những thông tin cần thiết về tình hình tài chính của đơn vị. - Tổ chức công tác kế toán gọn nhẹ, tiết kiệm và hiệu quả.2 Nguyên tắc tổ chức kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp Để tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý tài chính nói chung và trong công tác kế toán ngân sách nói riêng, tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp cần có các nguyên tắc sau: - Bảo đảm tính thống nhất giữa kế toán và quản lý.
Nguyên tắc thống nhất ở đây bao gồm thống nhất giữa đơn vị hạch toán với đơn vị quản lý (trước hết là đơn vị cơ sở), ngoài ra còn được hiểu là sự thống nhất giữa về không gian quản lý và tổ chức hạch toán và yêu cầu quản lý. Thống nhất mô hình tổ chức kế toán với mô hình tổ chức hoạt động và tổ chức quản lý; bảo đảm hoạt động quản lý phải gắn với kế toán và không được tách rời hoạt động kinh tế. Trên cơ sở đó, mọi quyết định liên quan đến tài chính trong đơn vị sự nghiệp phải có thông tin kế toán và các chi tiêu kế toán phải phù hợp với chỉ tiêu quản lý và hướng tới chỉ tiêu quản lý. Trong các đơn vị sự nghiệp, bên cạnh bộ phận kế toán còn có nhiều bộ phận quản lý khác nhau như kế hoạch, vật tư… Các bộ phận này phải quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thahf hệ thống quản lý của đơn vị.
Với tư cách là bộ phận của hệ thống quản lý, tổ chức hạch toán kế toán phải luôn đảm bảo mối quan hệ giữa các bộ phận khác nhau để cung cấp thông tin nội bộ kịp thời, thống nhất quản lý, đối chiếu số liệu, đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch… - Đảm bảo tính phù hợp trong hệ thống kế toán, giữa đối tượng với phương pháp, hình thức và bộ máy kế toán trong đơn vị kế toán và phù hợp với tính đặc thù của đơn vị hạch toán, đối tượng hạch toán. - Bảo đảm tuân thủ các quy định, chế độ tài chính kế toán hiện hành và bảo đảm tính quốc tế của nghề nghiệp: hạch toán kế toán là công cụ quan trọng để Nhà 8 nước kiểm tra, giám sát tình hình tài chính tại các đơn vị sự nghiệp tổ chức cung cấp dịch vụ công đồng thời là nguồn cung cấp thông tin tin cậy cho các đối tượng sử dụng. Do đó trong quá trình tổ chức hạch toán kế toán cần phải nghiên cứu đầy đủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán quốc tế và thực tiễn tổ chức quản lý ở Việt Nam để thể hiện và triển khai phù hợp với yêu cầu quản lý của các cấp chủ thể. Đối với các đơn vị sự nghiệp, việc nắm vững các quy định, chế độ và kế toán của Nhà nước trong triển khai các nội dung của tổ chức hạch toán kế toán là cơ sở đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của hệ thống thông tin kế toán.
- Tiết kiệm và hiệu quả: Phải tổ chức hạch toán có tính đối chiếu, kiểm soát nghiệp vụ cao giữa các phần hành lao động, quá trình nghiệp vụ và hoaatj động quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ trong bộ máy kế toán được tổ chức.3 Nội dung tổ chức kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp Nội dung của tổ chức hạch toán kế toán bao gồm tổ chức bộ máy kế toán và tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán để thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin. Nội dung cụ thể của tổ chức hạch toán kế toán bao gồm các vấn đề sau: 2.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại đơn vị hành chính sự nghiệp Theo Điều 8, Điều 9 Nghị định của Hội đồng bộ trưởng số 25/HĐBT ngày 18/3/1989 ban hành điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước: ‘Các đơn vị kế toán phải tổ chức bộ máy kế toán gọi là Phòng (hoặc Ban) kế toán. Các đơn vị kế toán có quy mô nhỏ phải bố trí người làm kế toán. Đối với những đơn vị kế toán cấp cơ sở thực hiện thống nhất về kế toán, thống kê, tài chính theo quy định của Bộ tài chính và Tổng cục Thống kê” và “Các đơn vị kế toán phải bố trí cán bộ kế toán theo đúng chức danh tiêu chuẩn quy định cho cán bộ kế toán.
Cán bộ kế toán được đảm bảo quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ quy định trong các chế độ kế toán”. Bộ máy kế toán là tập hợp đồng bộ các nhân viên kế toán để đảm bảo thực hiện khối lượng công tác kế toán phần hành với đầy đủ các chức năng thông tin và kiểm tra hoạt động của đơn vị cơ sở. Các nhân viên kế toán trong bộ máy kế toán có mối liên hệ chặt chẽ qua lại xuất phát từ sự phân công lao động phần hành trong bộ 9 máy. Mỗi cán bộ, nhân viên đều được quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, kể từ đó tạo thành mối liên hệ có tính lệ thuộc, chế ước lẫn nhau.