Chương 1 nêu những nội dung chính về vấn đề và lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của nghiên cứu, kết cấu của luận văn. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 2 trình bày các cơ sở lý thuyết đề tài bao gồm khái niệm liên quan, các lý thuyết tín dụng và mối quan hệ của tín dụng đối với TTKT, các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu, dữ liệu của nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu được ứng dụng trong đề tài bao gồm kỹ thuật phân tích số liệu. Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 4 trình bày tác động của tín dụng chính thức đối với TTKT, thống kê mô tả các biến trong nghiên cứu, chạy hồi quy, kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp và cuối cùng là trình bày kết quả nghiên cứu.
Kết luận và gợi ý chính sách Chương 5 trình bày tóm tắt kết quả ở Chương 4, vận dụng kiến thức và các lý thuyết kinh tế, dựa trên cơ sở thực tiễn để đưa ra gợi ý chính sách, đưa ra hạn chế của đề tài. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài bao gồm các khái niệm liên quan, các lý thuyết về tín dụng và mối quan hệ của tín dụng đối với TTKT, các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu.1 Tăng trưởng kinh tế 2.1 Khái niệm TTKT Theo Perskin và các cộng sự (2006), Nếu việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia tăng lên theo bất cứ cách nào, cùng với đó là thu nhập bình quân tăng lên thì quốc gia đó đã đạt TTKT. Hay nói cách khác, TTKT là sự gia tăng thu nhập haynsản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập hay sản phẩm quốc dân. Theo Phan Thúc Huân (2007),“TTKT là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời gian nhất định.” Theo David Begg và cộng sự (2008), tỷ lệ thay đổi thu nhập thực tế hoặc sản lượng thực tế đó chính là TTKT.
Theo Kuznets (1955),“sự gia tăng của sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi lao động chính là TTKT. Theo North và Thomas (1973),“nếu sản lượng tăng nhanh hơn tăng dân số thì TTKT xảy ra. TTKT là yếu tố và mục tiêu quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Nó có thể được hiểu là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội GDP, tổng sản phẩm quốc dân GNP hay còn được hiểu là thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định.
Đây cũng là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia bởi TTKT biểu hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Nó luôn gắng với các mục tiêu về xã hội, môi trường, các lợi ích lâu dài của quốc gia. TTKT là điều kiện để 7 tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao mức sống của người dân một quốc gia. Bên cạnh đó, TTKT còn là tạo tiềm lực vật chất để một quốc gia củng cố an ninh quốc phòng, khẳng định vị thế của một quốc gia trong khu vực hay trên thế giới, tạo những điều kiện thuận lợi cũng như cơ hội cho quốc gia đó có nhiều lợi thế hơn khi tham gia và hội nhập vào chuỗi kinh tế toàn cầu.2 Đo lường TTKT: Tỷ lệ tăng GNP hoặc GDP là chỉ tiêu chính thể hiện mức TTKT của thời kỳ sau so với thời kỳ trước.
Dưới dạng tổng quát, TTKT là sự gia tăng của GNP hoặc GDP trong một thời gian nhất định thường tính cho một năm. Theo Perskin và các cộng sự (2006),“GNP và GDP khác nhau ở chổ nó tính đến tất cả các sản lượng tạo ra trong lãnh thổ một nước, trong thời gian một năm, bao gồm cả sản lượng do người nước ngoài cư trú tạo ra, nhưng không tính đến giá trị sản lượng do người dân nước đó sống ở nước ngoài đã tạo ra. GNP hoặc GDP chia cho tổng dân số sẽ là thu nhập bình quân đầu người.” Bài nghiên cứu phân tích tác động của tín dụng chính thức đối với TTKT các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam nên TTKT tại các địa phương này sẽ được biểu hiện thông qua tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP. GRDP là toàn bộ kết quả của các hoạt động sản xuất trong nền kinh tế trên địa bàn các tỉnh, thành phố.
GRDP đo lường hiệu quả kinh tế của một khu vực. Nó bao hàm giá trị của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong khu vực. GRDP thường được báo cáo theo tốc độ tăng trưởng và được biểu thị bằng giá thực tế hoặc theo giá cố định. Tốc độ tăng trưởng cho thấy nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn (tăng tốc) hay chậm hơn (giảm tốc) hoặc suy giảm (co lại) so với giai đoạn trước.
GRDP đo lường sự đóng góp tương đối của ba khu vực kinh tế chính, Nông nghiệp, săn bắn, lâm nghiệp và đánh bắt cá, công nghiệp và dịch vụ.3 Phương pháp đo lường GRDP Theo Tổng Cục Thống kê, 03 phương pháp xác định GRDP là: Phương pháp tiếp cận thu nhập: Cách tiếp cận thu nhập bắt đầu với thu nhập kiếm được từ việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Theo cách tiếp cận thu nhập, tính toán thu nhập kiếm được từ tất cả các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế. Các yếu tố sản xuất là các yếu tố đầu vào đi vào sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ cuối cùng. Do đó, các yếu tố sản xuất của một doanh nghiệp là đất đai, lao động, vốn và quản lý trong phạm vi nội địa của một quốc gia.
Theo cách tiếp cận này, tính toán thu nhập từ mỗi yếu tố sản xuất này bao gồm tiền lương lao động nhận được, tiền thuê đất thu được, lợi tức vốn dưới hình thức lãi vay, cũng như lợi nhuận kinh doanh do ban quản lý thu được. Tổng của tất cả các khoản thu nhập này tạo thành thu nhập quốc dân và là một cách để tính GRDP. Phương pháp tiếp cận Chi tiêu: Cách tiếp cận thứ hai là trái ngược với cách tiếp cận thu nhập, nó bắt đầu bằng tiền chi cho hàng hóa và dịch vụ. Điều này đo lường tổng chi tiêu của tất cả các thực thể đối với hàng hóa và dịch vụ trong ranh giới nội địa của một quốc gia.
Phương pháp tiếp cận đầu ra (sản xuất): Điều này đo lường giá trị tiền tệ hoặc giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong biên giới của quốc gia.4 Lý thuyết về TTKT Lý thuyết tăng trưởng cổ điển Adam Smith (1923-1970) Các học thuyết kinh tế của Adam Smith như học thuyết về “giá trị lao động” thì cho lao động là nguồn gốc tạo ra của cải cho đất nước chứ không phải đất đai và tiền bạc; học thuyết “bàn tay vô hình” thì mọi cá nhân không có ý định thúc đẩy lợi ích công cộng mà nhằm vào lợi ích riêng của mình, cũng như trong nhiều trường hợp khác người đó được một bàn tay vô hình dẫn dắt để phục vụ mục đích không nằm trong ý định của mình. 9 Mặc dù Adam Smith không thảo luận rõ ràng về các giới hạn đối với sự tăng trưởng, nhưng một nhân khẩu học hạn chế tiềm ẩn trong mô hình của ông vì lao động là một yếu tố sản xuất tự chủ được cho là có sẵn tự do, trong khi vốn và công nghệ được tạo ra từ nội sinh thông qua đầu tư thu lợi nhuận. Ngoài ra, đất là đại diện cho việc tái tạo tài nguyên, có thể được thay thế tự do bằng vốn, do đó nó có thể tổng hợp với vốn. Thuật ngữ động lực học hệ thống các mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất và sản lượng được Adam Smith công nhận.
Ngay từ đầu, sản lượng được tạo ra bởi vốn, lao động và công nghệ. Một hạn chế lao động về sản lượng xuất hiện khi tỷ lệ vốn - lao động dưới mức tối ưu. Tăng vốn thông qua đầu tư, được thúc đẩy bởi lợi nhuận được xác định bởi sự khác biệt giữa sản lượng và hóa đơn tiền lương. Tăng trưởng công nghệ cũng được thúc đẩy bởi đầu tư, nghĩa là vốn mới hình thành sẽ nâng cấp công nghệ.
Lao động có thể được thuê tạo thành một nhóm người thất nghiệp được nuôi dưỡng bởi sự gia tăng dân số, trong khi tiền lương phụ thuộc vào sự chặt chẽ của thị trường lao động. David Ricardo (1817) với lý thuyết tăng trưởng Mô hình tăng trưởng của Adam Smith vẫn là mô hình chủ yếu của tăng trưởng cổ điển. David Ricardo (1817) đã sửa đổi nó bằng cách bao gồm lợi tức giảm dần đối với đất đai. Tăng trưởng đầu ra đòi hỏi sự tăng trưởng của các yếu tố đầu vào, nhưng, không giống như lao động, đất đai là “thay đổi về chất lượng và cung cấp cố định”.
Điều này có nghĩa là khi quá trình tăng trưởng diễn ra, nhiều đất hơn phải được sử dụng để canh tác, nhưng đất không thể được "tạo ra". Trong ấn bản thứ ba nguyên tắc của mình, Ricardo đã sửa đổi quan điểm của mình đối với máy móc. Ông khẳng định rằng, trên thực tế, máy móc thay thế sức lao động và lao động được “thả tự do” có thể không được tái hấp thu ở nơi khác (vì vốn không đồng thời được “giải phóng”) và do đó chỉ tạo ra áp lực giảm đối với tiền lương và do đó làm giảm thu nhập của lao động. Để tái hấp thu lượng lao động thừa mà không có tác dụng này, thì tốc độ tích lũy tư bản phải được tăng lên.
Nhưng 10 không có cơ chế rõ ràng nào để điều này xảy ra, đặc biệt là với xu hướng lợi nhuận được mô tả ở trên và do đó tiết kiệm giảm dần theo thời gian. David Ricardo được coi là tác giả xuất sắc của trường phái cổ điển, sáng lập ra học thuyết “mô hình tăng trưởng của Ricardo. Các giả định mô hình tăng trưởng của Ricardo: + Lao động (L) là nguồn gốc tạo ra của cải. + Yếu tố nguồn vốn (K) là yếu tố trực tiếp tăng sản lượng.
Không có sự xuất hiện của chính phủ vì chi phí của chính phủ không sinh lợi và làm giảm động lực tích lũy của doanh nghiệp. + Nền kinh tế truyền thống với nông nghiệp là yếu tố chi phối. + Tồn tại quy luật lợi tức biên giảm dần theo quy mô, yếu tố công nghệ tác động yếu, coi như bằng không.