CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm cấu trúc vốn (Capital Structure) Trong khi các lý thuyết học thuật ngày càng phát triển nhanh chóng, đa hình đa dạng, muôn màu muôn vẻ thì các nghiên cứu thực nghiệm lại có vẻ như đang ngày càng giẫm chân tại chỗ. Và Rajan và Zingales (1995) đã nêu ra một câu hỏi cho vấn đề nhức nhối: Chúng ta đã biết những gì về cấu trúc vốn? Thật không may làm sao! Brounen và cộng sự (2005) đã kết luận rằng: Từ những cuộc nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành, có vẻ như những điều mà chúng ta biết chỉ là một phần bề nổi bên trên nào đó của tảng băng cấu trúc vốn mà thôi. Xét về mặt học thuật, cấu trúc vốn (Capital Structure) được hiểu như là một thuật ngữ nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng cho việc mua sắm tài sản, phương tiện vật chất hữu hình và hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh1. Hơn nữa, cấu trúc vốn còn được định nghĩa chính là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho các quyết định đầu tư của doanh nghiệp (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007).
Ngoài ra, trong lĩnh vực tài chính, Brounen và cộng sự (2005) đã khẳng định rằng: cấu trúc vốn đề cập đến phương thức mà một công ty hay doanh nghiệp nào đó tài trợ cho nguồn huy động thông qua việc kết hợp các loại vốn ngắn hạn và dài hạn (bao gồm vốn chủ sở hữu, nợ và chứng khoán lai2). Bên cạnh đó, một số lý thuyết học thuật trong những năm gần đây cũng cho rằng cấu trúc vốn còn được hiểu như là thành phần đòn bẩy tài chính hoặc “cơ cấu” (structure) nợ phải trả của doanh nghiệp và giải thích cho những biến động về tỷ lệ nợ trên toàn công ty (Çağlayan và Şak, 2010). Hơn nữa, những nghiên cứu trước đây 1 Stockbiz Learning Center (2011) 2 Chứng khoán lai là dạng trung gian giữa chứng khoán cổ phần và chứng khoán nợ (Bách khoa toàn thư mở, 2013) 123doc 6 (nghiên cứu của Gropp và Heider (2009), Octavia và Brown (2008), v.v…) đã sử dụng biến đại diện cho cấu trúc vốn ngân hàng (biến phụ thuộc) là biến đòn bẩy tài chính. Về mặt học thuật, đòn bẩy tài chính (Financial Leverage) là khái niệm được hiểu là có liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực tài trợ (vay nợ).
Nó thể hiện mức độ các khoản nợ trong cơ cấu nguồn vốn. Đòn bẩy tài chính xuất hiện khi doanh nghiệp quyết định tài trợ cho phần lớn tài sản của mình bằng nợ vay. Hiện tượng này chỉ diễn ra khi nhu cầu vốn cho đầu tư của doanh nghiệp tăng cao trong khi nguồn vốn chủ sở hữu đã không đủ khả năng đảm bảo tài trợ. Thông thường, các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng chỉ sử dụng đòn bẩy khi có thể tin tưởng rằng tỷ suất sinh lợi trên tài sản cao hơn lãi suất đi vay.3 Thêm vào đó, việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ có hai tác động.
Thứ nhất, doanh nghiệp phải tăng thu nhập từ hoạt động kinh doanh để trang trải chi phí tài chính cố định (lãi vay và vốn gốc). Thứ hai, khi doanh thu đã đạt đến điểm hòa vốn thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ gia tăng nhanh chóng ứng với mỗi phần thu nhập từ hoạt động tăng thêm này. Đây cũng chính là lợi ích và kỳ vọng của các doanh nghiệp khi lựa chọn sử dụng đòn bẩy tài chính trong cái bánh huy động vốn của mình. Như vậy, tựu trung lại, nghiên cứu về cấu trúc vốn chính là chúng ta đi sâu nghiên cứu về phương thức lựa chọn tỷ lệ phù hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu với mục tiêu là tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp.
Hay nói một cách chính xác hơn thì việc đi xác định cấu trúc vốn cho các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại (hiện hữu trên thế giới và cả Việt Nam) nói riêng là đi xác định mức độ đòn bẩy tài chính phù hợp trong cơ cấu nguồn vốn huy động. Lẽ dĩ nhiên, biến “đòn bẩy tài chính” (LEV) cũng chính là biến phụ thuộc được lựa chọn trong mô hình nghiên cứu “các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam” được đề cập trong đề tài này.2 Khái niệm cấu trúc vốn tối ưu (Optimal Capital Structure) 3 Bộ tài chính – Ủy ban chứng khoán Nhà nước (2009) 123doc 7 Cấu trúc vốn tối ưu là một thuật ngữ chỉ về cấu trúc vốn mà trong đó cơ cấu nợ trên vốn chủ sở hữu tồn tại dưới dạng “tốt nhất” cho một công ty, khi mà chi phí sử dụng vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị doanh nghiệp đạt được lớn nhất.4 Một cách lý tưởng, cấu trúc vốn tối ưu là một hỗn hợp nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp. Với một cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa, tổng giá trị các chứng khoán của doanh nghiệp (và, vì vậy, giá trị của doanh nghiệp) được tối đa hóa. Do đó, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn tối thiểu được gọi là cấu trúc vốn tối ưu (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007).
Về mặt lý thuyết, khoản vay nợ thường cung cấp chi phí vốn thấp nhất. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp càng vay thêm nhiều nợ thì các chi phí phát sinh và rủi ro cũng dần tăng theo. Khi đó, cấu trúc vốn tối ưu được hiểu như là một sự cân bằng lý tưởng giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm làm giảm chi phí sử dụng vốn một cách tối thiểu cho các tổ chức, doanh nghiệp, ngân hàng hay công ty. Ngoài ra, tỷ lệ nợ ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp cũng cần được xem xét khi kiểm định về cấu trúc vốn của doanh nghiệp và hướng đến cấu trúc vốn tối ưu.
Nó cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn, rõ ràng hơn không chỉ về các rủi ro bên ngoài mà còn về các rủi ro tiềm ẩn bên trong. Chính vì vậy, xác định cấu trúc vốn tối ưu là một vấn đề đang được đặt ra không chỉ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mà còn cho các nhà quản trị trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.3 Khái niệm ngân hàng thương mại (Commercial Bank) Thật rõ ràng, ngân hàng thương mại được xem như là một định chế tài chính trung gian, thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ – huy động vốn rồi đem cho vay. Và không có gì nghi ngờ khi ta nói rằng ngân hàng chính là nhịp cầu nối giúp lưu chuyển nguồn vốn từ những người thừa vốn đến những người thiếu vốn trong nền kinh tế. Đầu tiên, ngân hàng thương mại được hiểu như là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác (hoặc dưới các 4 Investopedia US – A Division of Value Click Inc (2013) 123doc 8 hình thức khác) và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính (Đạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp 1941).
Kế tiếp, theo Pháp lệnh Ngân hàng ngày 24/05/1990 của Việt Nam đã nêu rõ: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Ngoài ra, theo luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, ngân hàng thương mại được hiểu như là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác (theo đúng quy định) nhằm mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, qua các khái niệm cơ bản, ta có thể đúc kết lại một số đặc trưng chủ yếu về ngân hàng thương mại như sau (Trần Huy Hoàng, 2011): Thứ nhất, ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp. Thật vậy, ngân hàng thương mại tồn tại mang theo những đặc trưng vốn có của doanh nghiệp: mục đích để nó ra đời là vì kinh doanh, hoạt động là vì lợi nhuận.
Thêm vào đó, nó cũng có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp hiện hữu, cũng tự chủ về tài chính và cũng phải có nghĩa vụ đóng thuế cho Ngân sách Nhà nước. Hơn nữa, cấu trúc vốn của các ngân hàng thương mại cũng mang đôi nét tương đồng như các doanh nghiệp khác. Thứ hai, tuy mang màu sắc là một loại hình doanh nghiệp nhưng ngân hàng thương mại lại có một sắc thái riêng – “một doanh nghiệp đặc biệt”. Trên thực tế, rõ ràng là nét đặc biệt của ngân hàng thể hiện ở lĩnh vực kinh doanh là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Cũng là một doanh nghiệp nhưng nguồn vốn chủ yếu mà các ngân hàng sử dụng trong kinh doanh lại là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi vốn riêng có của ngân hàng thì lại chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động. Thêm vào đó, trong tổng tài sản của ngân hàng, tài sản hữu hình chiếm tỷ lệ không lớn, mà chủ yếu là tài sản vô hình. Và một điểm vô cùng quan trọng là hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại chịu sự chi phối rất lớn bởi Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Chính vì những lý lẽ đó mà dường như ngân hàng thương mại hiện hữu như là một hình thức doanh nghiệp đặc biệt và thường được loại ra khỏi mẫu nghiên cứu của các công trình thực nghiệm về cấu trúc vốn của các công ty phi tài chính.
123doc 9 Thứ ba, ngân hàng thương mại còn được xem như là một kênh trung gian tài chính khá năng động. Quả thực, nó đóng vai trò như là một tổ chức trung gian với chức năng tập trung, huy động các nguồn tiền nhàn rỗi tạm thời, và rồi chuyển chúng đến những nơi thiếu và cần vốn. Thật vô cùng thú vị! Nó đã biến những nguồn vốn riêng nhỏ, rải rác khắp mọi nơi, khắp mọi chủ thể khác nhau thành những nguồn vốn chung lớn và đáp ứng được những mục tiêu dài hạn lâu bền trong tương lai.