CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN 1. Cơ sở lý luận về hệ số an toàn vốn 1. Định nghĩa CAR theo Basel II Hệ số an toàn vốn (CAR – Capital Adequacy Ratios) còn được biết đến với cái tên Hệ số Cooke hay hệ số siết cổ tín dụng. Hệ số này được tính dựa trên tỷ lệ giữa vốn tự có và tài sản đã điều chỉnh rủi ro.
Theo hiệp ước Basel II, hệ số CAR được xác định cụ thể như sau: Vốn cấp I+Vốn cấp II CAR = x 100% Tài sản đã điều chỉnh rủi ro Trong đó : - Vốn cấp I: bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ tin cậy cao nhất và có tính thanh khoản cao nhất như : vốn thực góp, lợi nhuận chưa phân phối, các quỹ và thặng dư vốn cổ phần,… - Vốn cấp II: bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ tin cậy ở hàng thứ cấp (thấp hơn so với vốn cấp 1) như: đánh giá lại tài sản, đánh giá lại các khoản quỹ dự trữ hay các công cụ nợ,… - Tài sản điều chỉnh có rủi ro: là tổng tất cả các tài sản do ngân hàng nắm giữ được tính toán theo trọng số theo một công thức do cơ quan quản lý (thường là Ngân hàng trung ương) đưa ra. Hầu hết các ngân hàng Trung ương đều theo chuẩn BIS – Ngân hàng thanh toán quốc tế để đặt ra những trọng số này. Các tài sản như tiền mặt, tiền xu thường có trọng số rủi ro là 0, trong khi các khoản vay không có bảo đảm có trọng số 100%. Nhìn chung khái niệm về CAR là như vậy tuy nhiên cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng mỗi nước, tùy theo ý mình có những quy định cụ thể riêng khi tính toán những công cụ tài chính vào hai loại vốn nêu trên.
Vai trò của hệ số an toàn vốn 4 Hệ số an toàn vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá hoạt động của NHTM, đây cũng là chỉ tiêu được bàn luận nhiều nhằm đưa ra cách xác định hệ số này một cách hợp lý nhất. Từ đó có thể thấy tầm quan trọng của hệ số này trong việc đánh giá hoạt động của các ngân hàng. Đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực của một ngân hàng trước 2 vấn đề là năng lực cạnh tranh và rủi ro trong hoạt động kinh doanh. - Hệ số an toàn vốn là chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng: CAR được tính toán từ hai thành phần rất quan trọng đó là vốn tự có và tài sản có rủi ro quy đổi.
Nếu như vốn tự có phản ánh khả năng của một ngân hàng trong việc giảm rủi ro phá sản đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời thì tài sản có rủi ro quy đổi lại phản ánh hoạt động sử dụng vốn và mức độ rủi ro của tài sản. Vì vậy CAR chính là chỉ tiêu thể hiện khả năng chống đỡ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra. - Thực hiện đúng chỉ tiêu hệ số an toàn giúp tăng uy tín cho NHTM. Trong hoạt động ngân hàng, uy tín của ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng.
Một ngân hàng có hệ số CAR đạt tiêu chuẩn sẽ tạo được uy tín đối với khách hàng, đồng nghĩa với khả năng tăng sức cạnh tranh so với các ngân hàng khác. Ngoài ra CAR còn là công cụ để thanh tra ngân hàng trung ương thực hiện giám sát việc đảm bảo vốn thực có so với vốn đăng ký ghi trong giấy phép khi thành lập và so với vốn pháp định, kiểm tra chỉ tiêu an toàn và hiệu quả sử dụng và bảo toàn vốn của các NHTM. Vì nếu các ngân hàng không chấp hành quy định về hệ số an toàn vốn sẽ có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản. Điều này có thể gây nguy hại cho toàn bộ hệ thống tài chính.
Các nhân tố tác động đến hệ số an toàn vốn 1. Nhân tố vĩ mô Môi trường kinh tế: Những biến động của môi trường kinh tế có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của ngân hàng. Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo được những điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM. Kinh tế tăng trưởng cao từ đó nhu cầu tín dụng cũng tăng cao xuất phát từ nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, vì vậy các NHTM có nhiều lựa chọn hơn trong việc tìm kiếm những 5 khách hàng tốt, đủ tiêu chuẩn, đủ năng lực tài chính để tiến hành cho vay và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Bên cạnh đó lượng tiền gửi trong dân cư tăng cao cũng là một yếu tố góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM. Ngược lại môi trường kinh tế bất ổn lại là một nhân tố tác động tiêu cực hệ số an toàn vốn. Khi đó nhu cầu vay vốn giảm sút, hoạt động tín dụng của NHTM ẩn chứa đầy rủi ro với nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng đồng thời chi phí dự phòng rủi ro cũng tăng cao, điều này sẽ tác động tiêu cực đến sự an toàn trong hoạt động của NHTM. Hơn nữa, hiện nay toàn cầu hóa và quá trình hội trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Điều này đòi hỏi các NHTM phải tự nâng cao sức mạnh tài chính, hoàn thiện sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn theo thông lệ quốc tế. Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý bao gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống pháp luật và việc chấp hành luật. Nếu hệ thống pháp luật được xây dựng không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì sẽ là rào cản lớn cho hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động của NHTM nói riêng. Đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh ngân hàng là mang tính lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn những lĩnh vực kinh doanh khác.
Do đó, đòi hỏi phải có sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ quan quản lý nhằm bảo vệ sự an toàn của hệ thống tài chính, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và người đầu tư. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng luôn cần được đặt trong một môi trường pháp lý nghiêm ngặt, bị chi phối rất mạnh bởi tác động của chính sách tiền tệ quốc gia. Rõ ràng môi trường pháp lý có vai trò quan trọng, là tiền đề giúp cho hoạt động của ngân hàng ngày càng an toàn, phát triển nhanh và bền vững. Nhân tố vi mô Quy mô ngân hàng: Quy mô được thể hiện thông qua tổng tài sản có của NHTM.
Tổng tài sản ngày một gia tăng chứng tỏ ngân hàng đang trong giai đoạn mở rộng quy mô, điều này ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng, trong đó có sự ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của ngân hàng. Sự ảnh hưởng này đã được minh chứng thông qua rất nhiều các nghiên cứu trước đây. Quy mô ngân hàng quan hệ tỷ lệ nghịch với CAR bởi vì ngân hàng càng lớn thì càng nắm giữ nhiều tài sản rủi ro hơn so với ngân hàng nhỏ. Ngoài ra công nghệ quản 6 lý rủi ro của các ngân hàng có quy mô tài sản lớn phát triển hơn, tạo ra lợi thế đo lường rủi ro chính xác hơn so với các ngân hàng nhỏ, do vậy không cần dự phòng quá nhiều vốn.
Tiền gửi của khách hàng: Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động cơ bản, thường xuyên của NHTM giúp ngân hàng có thể hoạt động một cách bình thường. Trong số các hình thức huy động vốn thì nhận tiền gửi của khách hàng là hình thức chiếm tỷ trọng cao nhất. Lượng tiền gửi của khách hàng tăng chứng tỏ ngân hàng đang có chiến lược huy động vốn hợp lý, thương hiệu ngày càng được khẳng định thông qua niềm tin và sự lựa chọn của khách hàng. Khi tiền gửi khách hàng tăng lên, ngân hàng sẽ có nhiều quy định hơn cũng như kiểm soát để đảm bảo quyền lợi người gửi tiền, đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng.
Đòn bẩy tài chính: Yếu tố đòn bẩy được đo bằng tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của NHTM. Hệ số đòn bẩy cao đồng nghĩa với việc quy mô vốn chủ sở hữu của các ngân hàng ngày một tăng cao, điều này làm cho hệ số an toàn vốn của NHTM vì thế cũng tăng lên. Dự phòng rủi ro tín dụng: Dự phòng rủi ro tín dụng được định nghĩa là giá trị dự trữ cho những mất mát có thể xảy ra trong tổng số tiền cho vay của ngân hàng trên bảng cân đối kế toán, đại diện cho tổng số tiền ước tính đủ trang trải cho các thiệt hại ước tính trong khoản mục cho vay. Dự phòng rủi ro tín dụng tăng lên cho thấy vấn đề rủi ro đối với các khoản cho vay đang tăng lên tác động trực tiếp đến mẫu số của CAR đó là tài sản rủi ro chuyển đổi.
Lợi nhuận: Lợi nhuận là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến CAR của NHTM. Hầu hết các ngân hàng khi muốn tăng lợi nhuận đều có xu hướng tăng nắm giữ tài sản rủi ro. Mặt khác lợi nhuận có xu hướng giữ lại để tăng vốn và đầu tư vào tài sản. Vì vậy, lợi nhuận có tác động đến cả tử số và mẫu số của hệ số CAR.
Thanh khoản: Khả năng thanh khoản cao có nghĩa là ngân hàng có thể chuyển đổi tài sản thành tiền mặt nhanh chóng để đáp ứng các nhu cầu tài chính khác. Khả năng thanh khoản cũng được xem là một yếu tố tác động đến CAR. Các ngân hàng có dự trữ thanh khoản cao được cho là có xác suất vỡ nợ thấp hơn. Năm 2011, tình trạng căng thẳng thanh khoản bao trùm các ngân hàng nhỏ tại Việt Nam.
Những quy định về trần lãi suất đã khiến 7 cho mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng giảm xuống. Và tất nhiên, khoản tiền gửi sẽ đi từ nơi có mức độ an toàn kém hơn (các ngân hàng nhỏ) đến nơi có mức an toàn cao hơn (các ngân hàng lớn). Kết quả là xảy ra tình trạng thiếu thanh khoản trầm trọng tại các ngân hàng nhỏ. Các ngân hàng này buộc phải tìm đến thị trường liên ngân hàng và chấp nhận mức lãi suất cao.
Sau đó để đảm bảo lợi nhuận, họ phải nắm giữ tài sản rủi ro hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến mẫu số khi tính CAR.