LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Hoạt động ngân hàng của các TCTD là một hoạt động quan trọng đối với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Thanh tra, giám sát ngân hàng là một chức năng thiết yếu của Ngân hàng nhà nước, một khâu quan trọng trong hoạt động quản lý Nhà nước, là phương thức đảm bảo trật tự trong hoạt động hệ thống TCTD nói chung cũng như hệ thống QTDND nói riêng. Thanh tra, giám sát Ngân hàng nhà nước nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các TCTD; đảm bảo việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Quỹ tín dụng nhân dân là một TCTD hợp tác, được thành lập theo Luật hợp tác xã và Luật các TCTD. Hoạt động của các QTDND trong thời gian qua đã góp phần đảm bảo sự ổn định kinh tế, xã hội, thúc đẩy phát triển và dịch chuyển cơ cấu kinh tế trên địa bàn nông thôn, góp phần tạo công ăn, việc làm, xóa đói giảm nghèo và hạn chế cho vay nặng lãi. Đến nay, hoạt động của các QTDND đã đạt được những kết quả đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính, ngân hàng nói riêng. Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng trong thời gian qua đã đạt được những kết quả to lớn, góp phần không nhỏ trong việc giữ ổn định cho hoạt động tài chính, ngân hàng, từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho tăng trưởng, phát triển kinh tế.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng về số lượng các TCTD cũng như các nghiệp vụ ngày càng phức tạp. Đặc biệt, hoạt động của hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động. Nguyên nhân của các hạn chế, sai sót xảy ra trong hoạt động quỹ tín dụng nhân dân hiện nay là do trình độ năng lực làm việc yếu của đội ngũ cán bộ tại quỹ, do tính tuân thủ pháp luật chưa cao, ngoài ra một xiii phần còn do hoạt động của Thanh tra, giám sát ngân hàng còn mang tính nhắc nhở, chưa nghiêm khắc áp dụng các cơ chế xử phạt khi sai phạm. Nếu gia tăng rủi ro thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, có ảnh hưởng tiêu cực không những đến nền kinh tế nông thôn, mà còn ảnh hưởng đến tình hình chính trị, xã hội trên địa bàn nông thôn.
Chính vì vậy, hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với hệ thống quỹ tín dụng nhân dân cơ sở để đảm bảo an toàn trong hoạt động của các QTDND là một vấn đề rất cấp thiết hiện nay. Nhận thức được sự cần thiết đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Hoạt động thanh tra, giám sát đối với Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Gia Lai” làm đề tài cho nghiên cứu thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học, ngành Tài chính Ngân hàng, với hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển và nâng cao hoạt động của Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như ổn định hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong những năm tiếp theo. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường hiệu lực hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng nhà nước đối với hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Gia Lai.2 Mục tiêu cụ thể Cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra, giám sát của NHTW, đặc điểm thanh tra, giám sát quỹ tín dụng nhân dân. Phân tích, đánh giá công tác thanh tra, giám sát ngân hàng đối với hoạt động của các QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh, từ đó tìm ra những tồn tại và nguyên nhân của hạn chế trong công tác thanh tra, giám sát Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể tăng cường tính hiệu lực trong công tác thanh tra giám sát ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn hoạt động đối với các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh, từ đó góp phần giúp các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phát triển an toàn, hiệu quả. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu, tác giả cần trả lời các câu hỏi? Thực trạng công tác Thanh tra, giám sát đối với hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Gia Lai ra sao? Những tồn tại? Nguyên nhân của những tồn tại? Cần có những giải pháp và kiến nghị gì về công tác thanh tra, giám sát ngân hàng đối với các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở tại Gia Lai nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh? 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1 Đối tƣợng Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Gia Lai đối với các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Gia Lai đối với các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ năm 2011 đến năm 2015. Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân hiện nay gồm Quỹ tín dụng nhân dân trung ương và các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở có tổ chức và hoạt động, chức năng nhiệm vụ khác nhau rất lớn.
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến hoạt động của 6 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Nội dung các vấn đề nghiên cứu trong luận văn được sử dụng thu thập tại 06 QTDND trên địa bàn và từ Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Tỉnh Gia Lai. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong quá trình làm luận văn, và để thực hiện mục đích nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể: xv + Phương pháp thu thập số liệu, phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn giải kết hợp với nền tảng lý luận từ kiến thức kinh tế học, tài chính ngân hàng. + Ngoài ra tác giả thu thập, tổng hợp số liệu từ chương trình, phần mềm ứng dụng của Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước, báo cáo tổng kết công tác thanh tra hàng năm, báo cáo giám sát từ xa, các kết luận thanh tra của Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước chi nhánh đối với các quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn từ năm 2011 đến năm 2015, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, như thống kê, phân tích, tổng hợp, đánh giá đối chiếu với thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Nội dung nghiên cứu của đề tài được thể hiện qua ba chương nghiên cứu: Chƣơng 1: Lý luận về hoạt động của Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước đối với Quỹ tín dụng Nhân dân. Chƣơng 2: Thực trạng thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Gia Lai đối với 06 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn Tỉnh. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Gia Lai. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG 1.1 Khái niệm về Ngân hàng Trung Ƣơng Theo Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung “Ngân hàng Trung Ương (NHTW) là cơ quan độc quyền phát hành tiền và thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, nhằm ổn định giá trị tiền tệ, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội”.2 Chức năng của Ngân hàng Trung Ƣơng Chức năng độc quyền phát hành tiền Ngân hàng Trung Ương là cơ quan độc quyền phát hành tiền mặt (gồm tiền giấy và kim loại) dựa trên nguyên tắc trữ kim và nguyên tắc hàng hóa, phát hành tiền thông qua 4 kênh phát hành chính là + Kênh tính dụng đối với nhà nước: NHTW cho nhà nước vay.
+ Kênh Ngân hàng trung gian: NHTW cho các ngân hàng trung gian vay. + Kênh thị trường mở: NHTW mua các chứng khoán ngắn hạn. + Kênh thị trường ngoại hối: NHTW mua vàng ngoại tệ. Chức năng ngân hàng của các ngân hàng Mở tài khoản, nhận tiền gửi và quản lý các khoản tiền gửi của các ngân hàng thương mại (NHTM).
+ Tiền gửi dự trữ bắt buộc: Là khoản tiền gửi của các ngân hàng trung gian nhằm dự trữ theo tỷ lệ bắt buộc do NHTW quy định. + Tiền gửi thanh toán: các NHTM phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại NHTW và việc thanh toán giữa các NHTM phải thông qua tài khoản dưới hình thức bù trừ hoặc từng lần. 2 Trung gian thanh toán giữa các ngân hàng Các NHTM đều mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại NHTW để thanh toán với các NHTM khác. NHTW làm trung gian thanh toán giữa các ngân hàng dưới hình thức: + Thanh toán từng lần + Bù trừ Cấp tín dụng cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác + Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng + Chiết khấu và tái chiết khấu các chứng từ có giá + Cho vay cầm cố các chứng từ có giá Mục đích: bổ sung vốn ngân hàng, cấp các phương tiện thanh toán, là người cho vay cuối cùng khi các ngân hàng trung gian sắp phá sản.