chương 1, tác giả đã trình bày tính cấp thiết để thực hiện đề tài “Các yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam”. Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu rõ mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Các phương pháp nghiên cứu, cách thu thập dữ liệu, đóng góp của đề tài và bố cục của nghiên cứu cũng được đề cập ở chương này. Trên cơ sở này, tác giả xây dựng cơ sở lý thuyết phù hợp với bài nghiên cứu, khảo lược các nghiên cứu trước và đưa ra các khoảng trống nghiên cứu ở chương 2.
Ngoài ra, việc mô tả về phương pháp nghiên cứu sẽ trình bày ở chương 3. Chương 4 và 5 là phần bàn luận sâu về kết quả của mô hình nghiên cứu và trình bày các gợi ý, khuyến nghị với các cơ quan ban ngành liên quan và các NHTM. 9 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái quát về tăng trƣởng tín dụng 2.
Khái niệm tăng trƣởng tín dụng Theo Luật các TCTD (2010), “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Có thể nói, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế mà ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay và vừa là người cho vay. Theo Trần Huy Hoàng (2010), tăng trưởng tín dụng là việc các NHTM sử dụng các chính sách nhằm tăng nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân… có nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu trên thị trường. Hay tăng trưởng tín dụng được hiểu là sự gia tăng về nhu cầu vay vốn của các cá nhân hay tổ chức, dùng chi tiêu cho tiêu dùng hay các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong một thời kỳ.
Khi dòng chảy vốn được cung cấp đầy đủ và nhanh chóng ra thị trường, đáp ứng được nhu cầu tín dụng của các chủ thể trong xã hội đồng nghĩa với dòng chảy kinh tế được diễn ra một cách ổn định. Theo Pham và Nguyen (2020) thì tín dụng góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên, liên tục, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngoài ra, tín dụng là hoạt động chính mang lại nguồn thu nhập chủ yếu trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng. Đo lƣờng tăng trƣởng tín dụng Tăng trưởng tín dụng là phần trăm tăng dư nợ tín dụng tại một thời điểm so với thời điểm trước đó và thường được đo lường hàng năm.
Cách đo lường tăng trưởng tín dụng được tính toán bằng công thức sau: Sau khi tính toán theo công thức, nếu tốc độ tăng trưởng tín dụng có giá trị dương thì tỷ trọng dư nợ tín dụng của NHTM đang tăng lên, ngược lại, kết quả có giá trị âm phản ánh lượng dư nợ mà NHTM cung cấp ra nền kinh tế đang sụt giảm. Ý nghĩa của tăng trƣởng tín dụng Tín dụng có mối quan hệ mật thiết với tăng trưởng kinh tế, khi tín dụng tăng lên phản ánh bức tranh tổng thể của nền kinh tế, cụ thể: Tín dụng tăng trưởng cho thấy các chính sách tiền tệ đang hoạt động ổn định, nguồn vốn lưu thông trong nền kinh tế đạt hiệu quả. Việc vốn được chu chuyển kịp thời đến những nơi thiếu vốn tạo tiền đề cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế. Khi hoạt động sử dụng vốn đạt hiệu quả, lợi nhuận tăng lên, đồng nghĩa với khả năng luân chuyển hàng hóa trên thị trường đang được diễn ra liên tục, góp phần vào quá trình phát triển của lực lượng sản xuất trong xã hội.
Cùng với đó, người tiêu dùng có xu hướng đi vay và chi tiêu nhiều hơn làm gia tăng đáng kể lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp thực hiện thúc đẩy tiêu dùng và xúc tiến tăng gia sản xuất để phục vụ kịp thời các nhu cầu của nền kinh tế. Mặt khác, sự gia tăng tiêu dùng và sản xuất sẽ tạo ra thêm nhiều việc làm và dẫn đến sự tăng trưởng của cả thu nhập và lợi nhuận. Bên cạnh đó, theo Igan và Pinheiro (2011), tăng trưởng tín dụng cho thấy các cơ hội đầu tư đang diễn ra thuận lợi 11 và hoạt động kinh tế diễn ra mạnh mẽ đẩy giá trị tài sản lên cao, từ đó làm tăng mức độ tín nhiệm của người đi vay và cho phép họ vay nhiều hơn với giá trị tài sản thế chấp cao hơn.
Do đó, tín dụng có tính chu kỳ thuận lợi và tăng trưởng song song với thu nhập. Lý thuyết có liên quan Nghiên cứu tiếp cận các lý thuyết như: Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory), Lý thuyết về lợi thế kinh tế theo quy mô (Economies of Scale) và Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của John Maynard Keynes để xác định các yếu tố đặc thù của ngân hàng và các yếu tố vĩ mô có ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng của các NHTM. Lý thuyết thông tin bất cân xứng Akerlof và cộng sự (1970) cho rằng thông tin bất đối xứng tồn tại khi một bên trong giao dịch kinh tế có nhiều thông tin hơn bên còn lại. Đây chính là một vấn đề trong thị trường tài chính đối với lĩnh vực ngân hàng.
Khi đó, người đi vay có đầy đủ thông tin về tình hình tài chính của mình hơn bên cấp tín dụng là ngân hàng. Trong trường hợp đó, nếu xãy ra rủi ro đạo đức, người đi vay sẽ có xu hướng khai báo sai hoặc chỉ cho thấy một phần nào đó về năng lực tài chính của bản thân nhằm đạt được mức cấp tín dụng lớn hơn, bất kể những nổ lực trong công tác thẩm định của bên cấp tín dụng. Huỳnh Thế Du và cộng sự (2005) nghiên cứu về thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng tại Việt Nam cho rằng “Chuẩn đoán không tốt vấn đề thông tin bất cân xứng có thể là nguyên nhân gây ra những trục trặc trong hoạt động tín dụng hệ thống ngân hàng Việt Nam”. Trục trặc đó bao gồm cả tỷ lệ nợ xấu khi khách hàng che giấu các thông tin về năng lực tài chính nhằm đạt được mục đích trong khoản vay của họ.
Ngân hàng rất dễ gặp tình trạng không đủ khả năng thanh toán cho nguồn vốn tài 12 trợ đầu vào khi các khoản cấp tín dụng trở thành nợ có khả năng mất vốn. Các khoản nợ đó sẽ trở thành nợ xấu và cản trở tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng. Bên cạnh đó, để thực hiện các hợp đồng tín dụng, ngân hàng phải thực hiện huy động vốn trong nền kinh tế và nguồn tài trợ chủ yếu đến từ tiền gửi khách hàng. Dù không thu hồi được vốn tín dụng đã cấp nhưng vẫn phải trả lãi và gốc đối với các khoản vốn huy động, điều này dẫn đến việc ngân hàng dễ mất khả năng thanh khoản – ngân hàng không đủ khả năng hoàn trả cho các khoản vay của họ.
Không chỉ hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng bị ảnh hưởng mà còn gây ra hậu quả xấu đối với nền kinh tế. Vì vậy, tác giả cho rằng tỷ lệ nợ xấu, thanh khoản ngân hàng và tăng trưởng vốn huy động có ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng. Lý thuyết về lợi thế kinh tế theo quy mô Lý thuyết về lợi thế kinh tế theo quy mô được đề xuất bởi nhà kinh tế học Adam Smith (1776). Lý thuyết cho rằng nếu đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô, một quốc gia có thể đạt được tăng trưởng kinh tế.
Tính kinh tế nhờ quy mô thể hiện lợi thế cạnh tranh và cắt giảm chi phí mà các công ty lớn hơn có được so với các tổ chức nhỏ hơn. Quy mô công ty càng lớn thì càng tiết kiệm được nhiều chi phí. Điều này là do lợi nhuận được tái đầu tư vào quá trình sản xuất bởi các công ty có nhiều doanh thu. Lê Hà Diễm Chi (2022) nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô và hiệu quả tài chính các ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả sử dụng lý thuyết về lợi thế kinh tế theo quy mô và đưa ra minh chứng rằng: “các ngân hàng lớn có lợi thế về chi phí so với các ngân hàng nhỏ nên có khả năng thu được nhiều lợi nhuận hơn và việc gia tăng quy mô giúp các ngân hàng lớn cải thiện đáng kể lợi nhuận của họ”.
Khi quy mô ngân hàng lớn thì khả năng huy động vốn cũng lớn hơn so với các ngân hàng có quy mô nhỏ thông qua mạng lưới hoạt động và vị thế thị trường của bản thân ngân hàng. Tuy nhiên, các ngân hàng có quy mô nhỏ cũng có lợi thế nếu thị trường hoạt động có phạm vi đủ rộng, tại đây, họ có thể huy động nhỏ lẻ nhưng số 13 lượng khách hàng có thể rất lớn, đủ đáp ứng cho nhu cầu về nguồn vốn tín dụng. Vì vậy, lý thuyết về lợi thế kinh tế theo quy mô cho thấy rằng quy mô ngân hàng có tác động đến khả năng huy động và hoạt động tăng trưởng tín dụng của ngân hàng. Lý thuyết tăng trƣởng kinh tế của John Maynard Keynes Lý thuyết được đề xướng bởi nhà kinh tế người Anh John Maynard Keynes và những người theo sau.
Keynes quan niệm rằng chính phủ nên sử dụng sức mạnh ngân sách để duy trì sự tăng trưởng và ổn định về kinh tế, vượt qua những chu kỳ suy thoái thường xảy ra trong đa số các nền kinh tế phương Tây (Lê Minh Trường, 2023). Theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp, khủng hoảng và duy trì tăng trưởng kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết, mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư để bảo đảm việc làm và tăng thu nhập. Theo ông, chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng thông qua các hoạt động: đầu tư nhà nước; hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ; các hình thức khuyến khích tiêu dùng.