CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỀ BÍ MẬT KINH DOANH, NHỮNG THÔNG TIN NÊN BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH VÀ LỢI THẾ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ BÍ MẬT KINH DOANH ĐƯỢC BẢO HỘ 1.1 Pháp luật sở hữu trí tuệ về bí mật kinh doanh 1.1 Khái niệm bí mật kinh doanh Quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ12, các tài sản trí tuệ này là “thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh”13 và không có hình thái vật chất. Vì vậy, quyền SHTT là một loại tài sản vô hình, nhưng khi ứng dụng quyền SHTT vào sản phẩm hữu hình nhất định thì nó có thể mang lại hiệu quả, giá trị lớn. Hiện nay, cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam chia quyền SHTT ra thành ba nhánh lớn là (i) quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, (ii) quyền sở hữu công nghiệp và (iii) quyền đối với giống cây trồng. Trong đó, BMKD là một trong những đối tượng thuộc quyền SHCN, là nhánh thứ hai và cũng là nhánh gắn liền với hoạt động kinh doanh của DN nhất trong tất cả các nhánh quyền SHTT.
Các quy định pháp luật về SHTT nói chung tại Việt Nam bắt đầu manh nha từ những năm 1960 với Nghị định 20/CP14 ngày 08/2/1965, tiếp theo là Nghị định 31/CP15 ngày 23/1/1981 … Đến Nghị định 63/CP16 ngày 24/10/1996 thì hầu hết các đối tượng SHCN như sáng chế và giải pháp hữu ích (nay gộp chung là sáng chế), kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa (nay đổi là nhãn hiệu), tên gọi xuất xứ hàng hóa (nay được thay thế bằng chỉ dẫn địa lý) đã được ghi nhận bảo hộ. Tuy nhiên, BMKD là một trong những đối tượng quyền SHCN được ghi nhận bảo hộ muộn nhất hiện nay (chỉ trước thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được ghi nhận bảo hộ vào năm 2003), BMKD lần đầu được quy định tại Nghị định 54/2000/NĐ- CP17 ngày 03/10/2000. 12 Khoản 1 Điều 4 Luật SHTT 13 Lê Nết, 2005. Trang 11 14 Nghị định 20/CP 15 Nghị định 31/CP 16 Nghị định 63/CP 17 Nghị định 54/2000/NĐ-CP 123doc 8 Tại Điều 6 Nghị định 54/2000/NĐ-CP quy định “BMKD được bảo hộ là thành quả đầu tư dưới dạng thông tin” và phải đáp ứng đủ ba điều kiện bảo hộ.
Với khái niệm này, BMKD được xác định là thành quả đầu tư nói chung, không xác định cụ thể là loại đầu tư nào. Luật SHTT năm 2005 ra đời đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật về SHTT ở nước ta khi lần đầu tiên các quy định về SHTT được quy tụ lại trong một văn bản luật thống nhất. Luật SHTT 2005 đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2009 (gọi tắt là Luật SHTT) và cho đến nay, đây là văn bản pháp luật chính thống cao nhất có quy định thế nào là BMKD. Tại Khoản 23 Điều 4 về giải thích từ ngữ Luật SHTT quy định: “BMKD là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa bị bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”.
Cả hai khái niệm trên đều thống nhất BMKD là một dạng thông tin, tuy nhiên Luật SHTT đã cụ thể hơn về cơ sở phát sinh của BMKD, nó phải là thành quả của hoạt động đầu tư tài chính hoặc đầu tư trí tuệ. Đã là BMKD thì thông tin đó tất nhiên phải có khả năng sử dụng trong kinh doanh, nếu không thì nó chỉ là những bí mật thông thường khác. Một điểm vô cùng quan trọng cần chú ý nữa đó là thông tin của BMKD phải là thông tin chưa bị bộc lộ, bởi nếu một thông tin đã bị bộc lộ thì nó không còn là bí mật nữa, đây là đặc điểm vốn có của mọi thứ có tính “bí mật”. Việc quy định về cơ sở phát sinh ra BMKD từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ như trong Luật SHTT dường như làm bó hẹp phạm vi của khái niệm về BMKD, bởi nếu một thông tin mật vô tình được phát hiện ra mà chẳng có sự đầu tư đặc biệt nào nhưng thông tin đó vẫn đem lại lợi thế cho DN trong hoạt động kinh doanh thì nó có thể không được bảo hộ theo quy định này.
Có lẽ vì lý do này, Khoản 4 Điều 6 Nghị Định 103/2006/NĐ-CP18 quy định “Quyền SHCN đối với BMKD được xác lập trên cơ sở đầu tư tài chính, trí tuệ hay bất kỳ cách thức hợp pháp nào để tìm ra, tạo ra hoặc đạt được thông tin.”, theo đó cơ sở phát sinh ra BMKD không còn bị bó hẹp trong các hoạt động đầu tư tài chính và trí tuệ nữa mà chỉ cần có “cách thức hợp pháp” là được. Với mục đích là “quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật SHTT”, từ quy định của Nghị định 103/2006/NĐ-CP nêu trên, có thể kết luận theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, BMKD có ba đặc điểm, cụ thể: (i) là một dạng thông tin, (ii) chưa bị bộc lộ, và (iii) có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Những đặc điểm này là khá tương đồng với cách hiểu chung trên thế giới về BMKD. 18 Nghị định 103/2006/NĐ-CP 123doc 9 Trên thế giới cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về BMKD (trade secrets) như: WIPO cho rằng19 “Nói chung, bất kỳ một thông tin kinh doanh bí mật nào cung cấp cho DN một lợi thế cạnh tranh thì đều có thể được coi là một BMKD”20.
Theo cơ quan SHTT Singapore thì21: “Một BMKD là thông tin quan trọng của các DN hoặc công ty và không được công chúng biết đến. Nó là một thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ các thông tin có giá trị thương mại”22. Theo cơ quan SHTT Canada thì23 “BMKD bao gồm bất kỳ thông tin kinh doanh có giá trị mà giá trị của nó xuất phát từ sự bí mật”24… Dù diễn đạt theo cách nào, tựu chung lại BMKD cũng là một dạng thông tin, thông tin đó có giá trị trong kinh doanh và nó phải là một thông tin mật, không có quy định nào về cơ sở phát sinh ra BMKD trong các quy định này.2Điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh Không phải mọi loại thông tin mật đều có thể trở thành BMKD, Luật SHTT đưa ra những tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là một thông tin mật đáp ứng điều kiện bảo hộ của một BMKD, nội dung này được quy định tại Điều 84 Luật SHTT, theo đó, BMKD được bảo hộ nếu đáp ứng đủ ba điều kiện như sau: - Thứ nhất, không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được: Thông tin của BMKD không phải là hiểu biết thông thường tức là thông tin đó chưa được phổ biến đến mức trở thành những kiến thức thông thường mà mọi người đều có thể biết, ví dụ: thông tin trong các tài liệu giảng dạy và học tập, thông tin trên báo chí hàng ngày… được xem là “hiểu biết thông thường” và không phải là đối tượng của BMKD. Thông tin đó không dễ dàng có được vì nó không được bộc lộ công khai đến mức mọi người đều có thể truy cập một cách dễ dàng, ví dụ thông tin trong các bài báo khoa học đã được đăng trên các tạp chí chuyên ngành, thông tin được chia sẻ công khai trên các website hoạt động chuyên môn… là những thông tin mang tính chuyên sâu chứ không còn là những hiểu biết thông thường nữa nhưng nó lại “dễ dàng có được” nên không thể trở thành BMKD.
Tuy nhiên, trên cơ sở những thông tin dưới dạng là những hiểu biết thông thường hay dễ dàng có được này, người ta có thể tổng hợp, chọn lọc, nghiên cứu 19 WIPO a, 20 Broadly speaking, any confidential business information which provides an enterprise a competitive edge may be considered a trade secret 21 Intellectual Property Office of Singgapore. What is a trade secret, and how is it related to confidential information? 22 A trade secret is information that is important to the business or company and is not known to the public. It is a term often used to cover information that has commercial value 23 Canadian Intellectual Property Office. 24 Trade secrets include any valuable business information that derives its value from the secrecy 123doc 10 phát triển, tìm ra quy luật…để tạo ra những tập thông tin mới hữu ích cho hoạt động kinh doanh và hoàn toàn đáp ứng điều kiện để trở thành BMKD.
Ví dụ, doanh nhân A tìm trong danh bạ DN được công bố công khai trên cổng thông tin DN quốc gia, dựa trên tiêu chí về ngành nghề kinh doanh, địa bàn trú đóng, quy mô DN… để lọc ra danh sách những DN có thể trở thành khách hàng tiềm năng của công ty ông; hoặc nhà nghiên cứu B dựa trên những tin tức về tình hình chính trị thế giới được đăng tải công khai trên báo chí để đánh giá xu hướng thay đổi của tỷ giá ngoại hối trong tương lai. Khi đó, danh sách khách hàng tiềm năng của doanh nhân A hay xu hướng thay đổi tỷ giá ngoại hối của nhà nghiên cứu B đều là những tập thông tin mới không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được (nếu chúng không bị chính doanh nhân A hay nhà nghiên cứu B bộc lộ công khai). Như vậy, ngoài việc phải đầu tư sáng tạo (như nhà nghiên cứu B) thì việc kết hợp cách đơn thuần những thông tin đã là hiểu biết thông thường và/ hoặc dễ dàng có được (như doanh nhân A) cũng vẫn có thể tạo ra một tập thông tin không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được. Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát, thông tin “không phải là hiểu biết thông thường” của BMKD là thông tin có được nhờ sự đầu tư về suy nghĩ/ thời gian/ nỗ lực/ kinh nghiệm và không nhiều người biết đến25.
- Thứ hai, khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ BMKD lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng BMKD đó. Như vậy, thông tin trong BMKD phải là thông tin hữu ích cho hoạt động kinh doanh, muốn vậy trước tiên nó phải có khả năng sử dụng trong hoạt động kinh doanh và khi sử dụng sẽ tạo ra giá trị nhất định. Chính giá trị được tạo ra từ BMKD sẽ là “lợi thế” của người nắm giữ và sử dụng thông tin từ BMKD. Những “lợi thế” của người nắm giữ BMKD sẽ được phân tích cụ thể hơn ở phần sau của đề tài (phần 1.
Như vậy, nếu một người nắm giữ tập thông tin và dù rằng chắc chắn thông tin đó có giá trị nhưng anh ta không sử dụng nó thì tập thông tin đó cũng không được bảo hộ như một BMKD.