CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu Chương này nhằm hệ thống hoá các nghiên cứu trước đây ở trong và ngoài nước có liên quan đến chủ đề đề tài. Ảnh hưởng của CNTT đối với hoạt động kế toán, đối với năng lực phản ứng của doanh nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ được xem xét. Ảnh hưởng của hoạt động kế toán đến năng lực phản ứng của doanh nghiệp và ảnh hưởng của năng lực phản ứng đến hoạt động của doanh nghiệp cũng sẽ được tổng hợp, để từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu.
Các nghiên cứu trong nước được tập hợp để so sánh, bao gồm các nghiên cứu về tổ chức hệ thống thông tin kế toán, nghiên cứu về ứng dụng ERP và ứng dụng PMKT sẽ được xem xét. Trên cơ sở các nghiên cứu trong và ngoài nước, chương này đã xác định được khoảng trống nghiên cứu cho đề tài. Tổng quan về những nghiên cứu ở nước ngoài 1. Ảnh hưởng của CNTT đối với hoạt động kế toán Việc ứng dụng hệ thống CNTT, mà đại diện là ERP trong các doanh nghiệp đã cho thấy có tác động đến hoạt động kế toán.
Theo Booth và ctg (2000), hệ thống ERP hoạt động tốt trong xử lý giao dịch và hỗ trợ ra quyết định đối với các tình huống phức tạp. Hệ thống ERP có ảnh hưởng đến việc sử dụng các phương pháp kế toán mới. Spathis và Constantinides (2004) thực hiện nghiên cứu định tính với việc phỏng vấn giám đốc của 26 công ty, từ đó nhận định được những lý do cơ bản khiến các công ty chọn chuyển đổi từ hệ thống thông tin (IS) sang hệ thống ERP và những thay đổi mang lại, đặc biệt đối với các hoạt động kế toán. Spathis (2006) kiểm tra các lợi ích kế toán liên quan đến việc áp dụng các hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp, từ đó hiểu rõ các nguyên nhân cơ bản thúc đẩy việc áp dụng các hệ thống quản lý doanh nghiệp.
Theo Spathis (2006), các lợi ích có được từ việc áp dụng ERP, bao gồm: lợi ích tổ chức, lợi ích hoạt động, lợi ích quản lý và lợi ích cơ sở hạ. Tương tự, Goumas và ctg (2018) cũng cho thấy lợi ích kế toán của việc triển khai ERP trong các SME trong ngành sản xuất, từ quan điểm kế toán. Các lợi ích đó bao gồm: lợi ích về CNTT, về vận hành, về quản lý, về tổ chức. Các kết quả cho thấy có sự khác biệt về tầm quan trọng của các lợi ích kế toán khác nhau trong các loại sản phẩm khác nhau.
Velcu (2007) cho thấy ở các công ty có mục tiêu dẫn đầu về công nghệ, việc sử dụng ERP mang lại các lợi ích: “thời gian thực hiện các nghiệp vụ kế toán được cải thiện” (đây là lợi ích hiệu quả nội bộ), “phản ứng nhanh hơn với sự thay đổi của môi trường kinh doanh” (đây là lợi ích thị trường) và các lợi ích hiệu quả tài chính được cải thiện khác. Các công ty có mục tiêu kinh doanh tốt nhận thấy “lợi ích kinh tế theo quy mô” là lợi ích hiệu quả nội bộ và lợi ích tài chính bao gồm “chi phí nhân viên thấp hơn” và “chi phí bán hàng, chi phí chung và quản lý thấp hơn”. Kanellou and Spathis (2013) đã chứng minh tác động của hệ thống ERP đối với các nghiệp vụ kế toán và từ đó dẫn đến sự hài lòng của người dùng. Kết quả của nghiên cứu có ý nghĩa đối với các công ty đang cân nhắc việc sử dụng hệ thống ERP.
Tijani and Ogundeji (2014) cho thấy tầm quan trọng của việc xử lý thông tin kế toán trên máy vi tính, và việc xử lý thông tin kế toán cần được duy trì trong môi trường của các nguyên tắc và thủ tục kế toán được chấp nhận chung. Attayah và Sweiti (2014) cũng cho thấy hệ thống ERP có tác động tích cực đến sự phù hợp của thông tin kế toán. Các nghiên cứu nói trên cho thấy mối quan hệ giữa CNTT- mà cụ thể ở đây là ERP – đến hoạt động kế toán. CNTT cũng có ảnh hưởng đến hoạt động kế toán quản trị.
Granlund và Malmi (2002) thực hiện một nghiên cứu định tính cho thấy các dự án ERP có tác động nhất định đến các thủ tục kiểm soát và kế toán quản trị. Spathis và Ananiadis (2005) xem xét tác động của các quyết định được đưa ra nhờ hệ thống ERP đến hoạt động kế toán và kế toán quản trị tại một trường đại học công lập lớn ở Hy Lạp, dựa trên lợi ích nhận thức theo mong đợi và nhận thức của người dùng. Kết quả nghiên cứu cho. 14 thấy, sau một năm triển khai, nhận thức của người dùng sẽ tích cực hơn so với kỳ vọng của họ ở giai đoạn trước khi triển khai.
Các dữ liệu thực nghiệm xác nhận một số lợi ích thu được từ hệ thống ERP mới, đặc biệt là hệ thông thông tin kế toán và kế toán quản trị. Hệ thống ERP mới đóng góp đáng kể vào việc tăng tính linh hoạt trong cung cấp thông tin, giúp trường đại học giám sát hiệu quả và khai thác tài sản, dòng thu, chi tiêu và cải thiện việc ra quyết định. Rom và Rohde (2006) thực hiện một nghiên cứu định lượng với 349 bảng câu hỏi được thu thập từ các công ty nhằm đánh giá ảnh hưởng của ERP đến khả năng giải quyết các nhiệm vụ kế toán quản trị khác nhau. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các hệ thống ERP hỗ trợ việc thu thập dữ liệu và tổ chức các hoạt động kế toán quản trị tốt.
Scapens và Jazayeri (2010) thực hiện một nghiên cứu tình huống theo thời gian đối với việc triển khai phần mềm SAP trong bộ phận châu Âu của một công ty đa quốc gia lớn ở Hoa Kỳ, trong đó kế toán quản trị được thay đổi trong quá trình phát triển. Các ông đã thấy rằng dưới tác động của phần mềm SAP, vai trò của kế toán quản trị đã thay đổi như sau: (i) loại bỏ các công việc thường xuyên; (ii) người quản lý cấp cơ sở cần có kiến thức kế toán; (iii) nhiều thông tin hướng tới tương lai; và (iv) mở rộng vai trò của các nhân viên kế toán quản trị. SAP không phải là nguyên nhân dẫn đến những thay đổi này; nhưng các đặc tính của SAP (đặc biệt, sự tích hợp, tiêu chuẩn hóa, thói quen và tập trung) đã mở ra một số cơ hội và tạo điều kiện cho những thay đổi của hoạt động kế toán quản trị. Như vậy, ERP chỉ có tác động tương đối vừa phải đối với nhân viên kế toán quản trị và các hoạt động kế toán quản trị.
ERP là một trong những thành quả của công nghệ thông tin đa dạng được các công ty sử dụng rộng rãi trong những năm gần đây. Khoảng 90 phần trăm các doanh nghiệp lớn đã quản lý một hệ thống ERP. Hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp vừa cũng đã quản lý và sử dụng các hệ thống như vậy. Nhiệm vụ của hệ thống này là tạo ra những thay đổi lớn trong doanh nghiệp (thay đổi về cấu trúc, văn hóa, nhiệm vụ, nhân sự, v.
Một trong những khu vực bị ảnh hưởng là trung tâm của hệ thống, tức là phần kế toán của nó; và một trong những nhân viên chủ chốt tham gia vào việc thực hiện và áp dụng hệ thống. 15 ERP là kế toán quản trị. Etemadi và Kazeminia (2014) cho thấy việc quản trị hệ thống ERP tốt sẽ tạo ra những thay đổi về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thay đổi về hành vi và kỹ năng của kế toán quản trị. Abbasi và ctg (2014) phát hiện hiệu quả cao nhất của việc triển khai ERP trong các tổ chức được khảo sát của Iran là: các mức tiêu chuẩn và chất lượng báo cáo đang được cải thiện, tạo thêm sự tích hợp tổ chức và trao quyền cho nhân viên.
Ponorica và ctg (2015) lại thấy rằng ERP không tác động nhiều đến các hoạt động kế toán tài chính nhưng có tác động mạnh đến các hoạt động kế toán quản trị. Liên quan đến mối quan hệ giữa ứng dụng CNTT và kế toán quản trị, Rikhardsson và Yigitbasioglu (2018) trong 1 tổng hợp các nghiên cứu về mối quan hệ này giai đoạn 2005 - 2015 cho thấy chỉ có 30 bài báo đăng trên các tạp chí có uy tín liên quan đến kế toán. Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều nội dung nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa CNTT và kế toán quản trị cần được khám phá. Như vậy, hầu hết các nghiên cứu gần đây về ảnh hưởng của CNTT đối với hoạt động kế toán đều liên quan đến ERP.
Một lý do có thể giải thích là các nghiên cứu được thực hiện ở các nước phát triển (Châu Âu, Úc…). Các nghiên cứu đều cho thấy ảnh hưởng tích cực nhất định của CNTT đối với công tác kế toán, mang lại nhiều lợi ích (hỗ trợ tốt hơn trong xử lý, ra quyết định, giảm chi phí, cung cấp thông tin phù hợp…). Tuy nhiên cũng có số nghiên cứu cho thấy việc ứng dụng CNTT đặt biệt là ERP không ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kế toán tài chính mà chủ yếu là kế toán quản trị. Số lượng nghiên cứu về mối quan hệ giữa CNTT và kế toán quản trị còn ít, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến mối quan hệ giữa chất lượng PMKT đến hoạt động kế toán và những lợi ích của nó mang lại.
Xem Phụ lục 1- Tóm tắt 1 số nghiên cứu trên thế giới liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Ảnh hưởng của ứng dụng CNTT đối với năng lực phản ứng của doanh nghiệp Tầm quan trọng của CNTT ngày càng được xác nhận trong các hoạt động sản xuất, một số nghiên cứu tìm thấy rằng hệ thống thông tin thúc đẩy năng lực phản ứng của doanh nghiệp. Theo Coronado và Colin (2002), hệ thống thông tin được coi là tạo ra và tạo điều kiện cho việc tổ chức sản xuất một cách linh hoạt. Các tác giả này cho rằng hệ thống thông tin hỗ trợ và thúc đẩy sự nhanh nhẹn và năng lực phản ứng của doanh nghiệp.
Van Oosterhout và ctg (2006) cho rằng môi trường kinh doanh năng động hiện tại đòi hỏi các doanh nghiệp phải nhanh nhẹn. Sự nhanh nhẹn của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp có thể nhanh chóng và dễ dàng thay đổi các hoạt động và quy trình kinh doanh vượt quá mức độ linh hoạt bình thường để quản lý hiệu quả các thay đổi bên ngoài và nội bộ không thể đoán trước.