phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận tổ chức HTTTKT trong doanh nghiệp kinh doanh thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức HTTTKT tại Công ty TNHH Vận tải & TM Xăng dầu Thiên Phúc. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện HTTTKT tại Công ty TNHH Vận tải & TM Xăng dầu Thiên Phúc. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát chung về hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp 1. Các khái niệm cơ bản Khái niệm hệ thống thông tin Hệ thống là một khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống. Dưới góc độ quản lý, Romney và Steinbart (2012) cho rằng “Hệ thống là một tập hợp các thành phần có quan hệ tương tác với nhau để cùng thực hiện các mục tiêu đặt ra của hệ thống” [21]. Như vậy, có thể hiểu: HTTT là một tập hợp gồm con người, phương tiện, quy trình.
được tổ chức thành một chỉnh thể thống nhất, thực hiện các hoạt động thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin. Trong một doanh nghiệp, HTTT được thiết lập nhằm hỗ trợ cho các hoạt động chức năng của doanh nghiệp, đặc biệt là hỗ trợ quá trình ra quyết định của các cấp quản lý. Trong nhiều năm qua, có nhiều HTTT được xây dựng và phát triển cho các mục đích khác nhau, tùy thuộc vào nhu cầu của doanh nghiệp. Mỗi HTTT đóng một vai trò khác nhau trong tổ chức phân cấp và quản lý hoạt động tại doanh nghiệp.
Trong đó, HTTTKT là một HTTT chức năng cơ bản của doanh nghiệp, vừa hỗ trợ quá trình hoạt động, vừa hỗ trợ quá trình quản lý. Khái niệm hệ thống thông tin kế toán Về mặt bản chất, kế toán ra đời nhằm cung cấp các thông tin hữu ích cho người sử dụng. Chính vì vậy, kế toán thường được nhìn nhận và đánh giá dưới góc độ là một HTTT, Romney và Steinbart (2012) cho rằng: “HTTTKT là hệ thống thu thập, ghi chép, lưu trữ và xử lý số liệu về các nghiệp vụ kinh tế trong tổ chức để cung cấp thông tin cho những người ra quyết định” [21]. Theo đó, HTTTKT là một cấu trúc không thể thiếu trong một thực thể sử dụng tài nguyên sẵn có và các thành phần khác để thay đổi dữ liệu giao dịch tài 5 chính - kế toán thành thông tin, với mục đích đáp ứng nhu cầu của người dùng.
Kieso và cộng sự (2012) giải thích: bản chất của HTTTKT là thu thập dữ liệu thô, sau đó được trình bày dưới dạng thông tin kế toán hữu ích cho người sử dụng thông tin [18]. Trong trường hợp này Romey và Steinbat, (2012) cho rằng, thông tin kế toán được xem như là một hệ thống giúp nhà quản lý lên kế hoạch và kiểm soát bằng cách cung cấp thông tin thích hợp, đáng tin cậy để ra quyết định [21]. Các hệ thống con của HTTTKT xử lý cả các nghiệp vụ tài chính và các nghiệp vụ phi tài chính nhưng ảnh hưởng trực tiếp là đến quá trình xử lý các nghiệp vụ tài chính. Như vậy, HTTTKT là sự giao thoa giữa kế toán và hệ thống thông tin, vì vậy mà các nghiên cứu thường nhìn nhận HTTTKT như là một hệ thống thông tin trên máy tính.
Cùng thời điểm, Marshall và Paul (2012) cho rằng, HTTTKT bao gồm con người, quy trình và CNTT, thực hiện các chức năng quan trọng như thu thập, lưu trữ dữ liệu phát sinh trong quá trình hoạt động và các giao dịch nhằm giúp đơn vị có thể xem lại những sự kiện xảy ra, xử lý dữ liệu thành thông tin hữu ích phục vụ cho việc ra quyết định, đồng thời cung cấp, kiểm soát đầy đủ thông tin để bảo vệ tài sản của đơn vị, bao gồm cả dữ liệu của HTTTKT [19]. Từ các khái niệm trên, có thể hiểu: HTTTKT là một tập hợp các thành phần có mối quan hệ tương tác với nhau để thực hiện các nhiệm vụ thu thập, ghi chép, xử lý và báo cáo thông tin theo nhu cầu của người sử dụng. Khái niệm công tác tổ chức HTTTKT Khi gắn với HTTTKT thì công tác tổ chức HTTTKT là những hoạt động phối hợp các thành phần của HTTTKT với nhau để vận hành hệ thống và đạt được mục tiêu là cung cấp các thông tin kinh tế tài chính hữu ích cho người sử dụng. Kế thừa quan điểm của Trần Thị Quỳnh Trang (2018) [13], tác giả sử dụng khái niệm: Công tác tổ chức HTTTKT là những hoạt động kết hợp các thành phần trong HTTTKT với nhau để thực hiện nhiệm vụ thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin theo nhu cầu của người sử dụng.
6 Thông qua quá trình tổ chức HTTTKT, các thành phần dữ liệu, cơ sở hạ tầng CNTT, phần mềm, con người kết hợp với các phương pháp, thủ tục, quy trình sẽ tạo ra các thông tin cần thiết để cung cấp cho nhà quản lý cũng như các đối tượng sử dụng thông tin khác bên ngoài doanh nghiệp. Phân loại hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp Theo Romney và Steinbart (2012), thành phần của HTTTKT gồm: (1) Người sử dụng hệ thống; (2) Những thủ tục và hướng dẫn sử dụng để thu thập, xử lý, báo cáo và lưu trữ dữ liệu; (3) Dữ liệu về hoạt động tổ chức và kinh doanh của doanh nghiệp; (4) Phần mềm sử dụng để xử lý dữ liệu; (5) Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (máy tính, thiết bị thông tin, mạng…); và (6) Phương thức đo lường khả năng KSNB và bảo mật dữ liệu của HTTTKT [21]. Cách phân chia này tương đối đầy đủ và khoa học, tuy nhiên thành phần thứ 6 là “Phương thức đo lường khả năng KSNB và bảo mật dữ liệu của HTTTKT” chưa thực sự phù hợp vì các thủ tục KSNB chỉ là một phần của hệ thống kiểm soát. Do đó, có thể trình bày các yếu tố cơ bản của HTTTKT như sau [11]: - Đầu vào: Là các dữ liệu từ các hoạt động kinh tế phát sinh, ví dụ trong một doanh nghiệp là các hoạt động: mua vật tư, hàng hóa, bán hàng, thu tiền, các chi phí phát sinh… - Quy trình xử lý: Là một quy trình hoàn chỉnh từ việc thu thập thông tin về các dữ liệu kế toán, đến việc xử lý, phân tích, tổng hợp các dữ liệu này để lập các báo cáo kế toán bằng hệ thống các phương pháp kế toán là phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản và ghi kép, phương pháp đo lường đối tượng kế toán và phương pháp tổng hợp cân đối kế toán.
Quy trình xử lý của HTTTKT rất phức tạp, đòi hỏi sự vận dụng hợp lý hệ thống các phương pháp kế toán trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc, các chuẩn mực kế toán và hệ thống các phương tiện kỹ thuật CNTT. Để cung cấp thông tin tổng hợp và chi tiết ở các mức độ khác nhau, trong giai đoạn xử lý thông tin, quan trọng nhất là việc tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán để làm căn cứ cho việc phân loại và hệ thống hóa thông tin theo từng loại đối tượng kế toán, từng loại chỉ tiêu phục vụ nhu cầu thông tin của người sử dụng với phương tiện vật chất biểu hiện là hệ thống các sổ kế toán. 7 -Đầu ra: Là các thông tin kế toán đáp ứng theo yêu cầu của người sử dụng, bao gồm các đối tượng bên ngoài tổ chức, các cấp quản trị cũng như phục vụ hoạt động tác nghiệp tại các bộ phận bên trong tổ chức. Phương tiện biểu hiện những thông tin tổng hợp và chi tiết đã được xử lý để cung cấp cho người sử dụng là hệ thống báo cáo kế toán gồm BCTC và các báo cáo kế toán quản trị.
Trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin, đầu ra của HTTTKT còn là tất cả những thông tin kế toán cần thiết phục vụ công tác quản lý và tác nghiệp mà các bộ phận chức năng có thể được phân quyền truy cập [4].Vai trò của hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp HTTTKT có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp như sau [11]: - Các dữ liệu trong HTTTKT có thể được sử dụng để phát hiện ra nguyên nhân của những vấn đề đang tồn tại, từ đó có các định hướng và quyết định trong quản trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó, HTTTKT có thể tự động hóa xử lý số lượng lớn dữ liệu, chia sẻ dữ liệu, thông tin trong phạm vi doanh nghiệp và cung cấp, truy vấn thông tin trực tuyến một cách nhanh chóng, tự động lập các báo cáo kế toán, báo cáo quản trị. Từ các tác dụng đó, HTTTKT tác động vào hiệu quả quyết định của nhà quản lý, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, giảm thiểu các gian lận và tăng cường khả năng kiểm soát của nhà quản lý. - HTTTKT là một công cụ có thể cung cấp các thông tin về kế toán, tài chính và các thông tin khác để hỗ trợ giám sát và kiểm soát cho việc ra quyết định và đánh giá hiệu quả kinh doanh [14], Nó cung cấp cho các nhà quản lý thông tin họ cần để thực hiện các trách nhiệm ra quyết định [16].
Thông tin chính xác, kịp thời được cung cấp từ HTTTKT sẽ hỗ trợ một cách tích cực cho các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định và quản lý doanh nghiệp [12]. - HTTTKT có vai trò ngày càng quan trọng đối với nhà quản trị trong việc thực hiện các chiến lược kinh doanh [7]. HTTTKT có vai trò cung cấp các dữ liệu về doanh thu và chi phí để nhà quản trị có cơ sở đưa ra các quyết định cần thiết [6], vì thế, việc tổ chức vận hành HTTTKT trong các doanh nghiệp như thế nào để có chất lượng phục vụ cho công tác quản lý, cho quá trình ra quyết định là một tất yếu khách quan và cần thiết [10] - Trong bối cảnh các doanh nghiệp đang nỗ lực thúc đẩy ứng dụng những thành quả cuộc của cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại cho nên kinh tế, thì 8 HTTTKT đóng một vai trò chiến lược đối với các DN bằng việc tìm cách kết hợp thông tin và các sự kiện kinh tế, sử dụng công nghệ như một công cụ cơ bản để kích hoạt sự đổi mới và sự hỗ trợ quan trọng. Đồng thời HTTTKT còn đóng một vai trò trung tâm trong việc thu thập và tiết lộ thông tin để hỗ trợ việc ra quyết định.