MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Trong bối cảnh hiện nay, phân tích tài chính được xác định là công cụ quản trị quan trọng trong các doanh nghiệp nói chung và các công ty niêm yết thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nói riêng. Để sử dụng công cụ này một cách hiệu quả, có rất nhiều khía cạnh phân tích trong đó hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính là quan trọng nhất. Thông qua giá trị và xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích tài chính, nhà quản trị có thể đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó tìm ra nguyên nhân và các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Như vậy phân tích tài chính với hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính đánh giá tình hình tài chính và nhận diện rủi ro tài chính là một trong những công cụ quản trị đắc lực giúp nhà quản trị có căn cứ thích hợp để đưa ra các quyết định đúng đắn, phù hợp nhất. Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam là một tập đoàn kinh tế với lĩnh vực chính là khai thác than đá và khoáng sản. Tính đến cuối năm 2017, Tập đoàn có 31 công ty niêm yết. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nói chung và các công ty niêm yết nói riêng đang bị giảm sút.
Tình hình kinh tế thế giới, trong nước tăng trưởng chậm, nhu cầu than giảm đã ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động SXKD của Tập đoàn cũng như các công ty niêm yết. Các áp lực về diện khai thác than ngày càng xuống sâu, địa chất phức tạp; tình hình thời tiết bất lợi; chính sách thuế phí tăng; việc tuyển dụng, giữ chân thợ lò và công nhân có tay nghề cao khó khăn. cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các nhà quản trị. Bên cạnh đó, các công ty niêm yết thuộc TKV hiện nay vẫn giữ một vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước nói riêng.
Nhà nước sớm hay muộn phải thoái vốn tại các công ty này. Tuy nhiên để thoái vốn thành công đòi hỏi năng lực quản trị của các công ty phải được cải thiện nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các công ty. Điều này sẽ làm cho cổ phiếu 1 luan an các công ty hấp dẫn hơn, Nhà nước thoái vốn thành công hơn và đóng góp tốt hơn cho nền kinh tế nước nhà. Hơn nữa, nghiên cứu thực tế qua các phiếu khảo sát, đánh giá ban đầu, tác giả nhận thấy việc sử dụng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại các công ty niêm yết này chưa đáp ứng được yêu cầu quản trị.
Chính vì thế, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại các công ty niêm yết thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam” làm luận án tiến sỹ của mình. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Tính đến thời điểm hiện nay, đã có khá nhiều nghiên cứu về phân tích tài chính (đặc biệt là hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính) của doanh nghiệp, công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng như các công trình nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phục vụ quản trị tại các công ty niêm yết. Mỗi công trình đều mang lại những kết quả hữu ích giúp tác giả kế thừa để phục vụ cho luận án của mình. Nhà quản trị thường xuyên phải đưa ra các quyết định của mình trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các quyết định tài chính gồm: quyết định huy động vốn, quyết định sử dụng vốn và quyết định phân phối vốn. Trong quyết định vốn nhà quản trị sẽ cần đến các chỉ tiêu phân tích tài chính về tình hình huy động vốn. Đối với quyết định sử dụng vốn nhà quản trị sẽ cần các chỉ tiêu phân tích tài chính về quy mô và cơ cấu tài sản; hiệu quả sử dụng vốn thông qua các chỉ tiêu phân tích tài chính về năng lực hoạt động vốn, khả năng sinh lời của vốn; Tình hình công nợ và khả năng thanh toán; tình hình lưu chuyển tiền tệ. Quyết định phân phối lợi nhuận với các chỉ tiêu phân tích tài chính về tình hình kết quả kinh doanh; tình hình cổ phiếu; rủi ro tài chính; tình hình tăng trưởng và phát triển bền vững.
Vì vậy tác giả đi vào tiếp cận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phục vụ quản trị tại doanh nghiệp nói chung và các công ty niêm yết nói riêng theo các nhóm chỉ tiêu liên quan như: Tình hình huy động vốn (1); tình hình sử dụng vốn (2); tình hình và kết quả kinh doanh (3); tình hình lưu chuyển tiền (4); tình hình công nợ và khả năng thanh toán 2 luan an (5); rủi ro tài chính (6); tình hình cổ phiếu (7); tình hình tăng trưởng và phát triển bền vững (8). Cụ thể: - Nhóm các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu phân tích tài chính nhằm phân tích tình hình huy động vốn: Đầu tiên là các công trình trong nước, có thể kể đến Trong các cuốn sách của các tác giả như: Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ [10, tr 139,148-151], Nguyễn Trọng Cơ và Nghiêm Thị Thà [14, tr141, 152- 155], Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh [86, tr 90-97], Phạm Thị Gái [36, tr 272-273], Nguyễn Năng Phúc [58, tr 169-170,203-206], Nguyễn Văn Công [19, tr 196-208], Nguyễn Thị Quyên [65,tr44-45], Phạm Thị Thủy [81, tr148-149, 164], Ngô Kim Phượng [60]; Lê Thị Xuân [87, tr 160-161]; Vũ Thị Thục Oanh [ 54] khi nghiên cứu về các chỉ tiêu phân tích tình hình huy động vốn đều có đồng quan điểm trong việc sử dụng các chỉ tiêu phân tích tài chính như: các chỉ tiêu về nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán, tỷ trọng từng bộ phận nguồn vốn trong tổng nguồn vốn, và các chỉ tiêu đảm bảo hoạt động tài trợ như vốn lưu chuyển (hoặc vốn hoạt động thuần), chi phí huy động vốn bình quân, hệ số tự tài trợ, hệ số tài trợ thường xuyên. Tuy nhiên hạn chế của các nghiên cứu trên là chưa đề cập đến tính đặc thù của ngành nghề kinh doanh, loại hình doanh nghiệp ảnh hưởng đến các chỉ tiêu phân tích tình hình huy động vốn tại các công ty niêm yết. Cho nên việc vận dụng các chỉ tiêu này vào từng ngành nghề kinh doanh phải thật linh hoạt và phù hợp với đặc thù.
Đây cũng là điều mà tác giả luận án cần phải làm rõ trong luận án của mình. Bên cạnh đó, đề cập đến việc phân tích tình hình huy động vốn trong các doanh nghiệp đặc thù, các tác giả của các luận án tiến sỹ như Nguyễn Thị Quyên [65, tr25-27], Nguyễn Thị Cẩm Thuý [80,tr 39-40], Đàm Thanh Tú [84, tr47], Nguyễn Thị Ngọc Lan [50,tr 46-49], Mai Khánh Vân [85, tr37-39], Nguyễn Thị Lan Anh [1, tr46], … đã chỉ ra rằng nhóm các chỉ tiêu phân tích tình hình huy động vốn ngoài các chỉ tiêu nói trên, còn cần chi tiết để phù hợp với đặc thù ngành mà tác giả đó nghiên cứu như: bất động sản, cầu đường, xây dựng,. Hơn nữa cách sắp xếp, phân loại các chỉ tiêu phân tích tài chính của các tác giả này khác 3 luan an nhau. Có tác giả đã sắp xếp các chỉ tiêu nói trên vào nội dung phân tích tình hình tài chính, tác giả khác lại cho vào nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài sản và nguồn vốn,.
Tiếp theo là các công trình ngoài nước, có thể kể đến như: Tác giả đã tìm thấy 1 công trình nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực khai thác than – khoáng sản của các tác giả nước ngoài, đó là luận án “Financial analysis of mining projects” của tác giả Goutam Chandra Saha [96] đã đề cập đến chỉ tiêu phân tích tình hình huy động vốn đó là Tổng nguồn vốn và vốn lưu động thuần. Tác giả đã tính toán chỉ tiêu này ở một số công ty than tiêu biểu và nhận xét về luồng vận chuyển của nguồn vốn này trong giai đoạn 5 năm liên tục. Tuy nhiên điểm hạn chế của luận án là mới chỉ dừng lại ở tính toán chỉ tiêu này chứ chưa cho biết được nguồn vốn của doanh nghiệp huy động từ những nguồn nào là chủ yếu, có hợp lý hay không, có đảm bảo chi phí huy động vốn hiệu quả nhất hay không. Gibson [90, 307-309] trong nghiên cứu “Financial Reporting & Analysis Using Financial Accounting Information” cũng đưa ra chỉ tiêu vốn lưu động thuần khi phân tích về tình hình huy động vốn của công ty.
Như vậy qua quá trình nghiên cứu tác giả luận án thấy rằng, các tác giả nước ngoài khá đồng nhất trong việc sử dụng chỉ tiêu phân tích tài chính phân tích tình hình huy động vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ sử dụng chủ yếu chỉ tiêu vốn lưu động thuần là chưa đầy đủ, chưa phản ánh hết các khía cạnh của quá trình huy động vốn như nguồn vốn mà công ty huy động từ những nguồn nào, phụ thuộc hay độc lập, chi phí huy động là cao hay thấp, … Tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm nghiên cứu của các nhà khoa học nói trên. Tuy nhiên mỗi nhà nghiên cứu sẽ có những cách gọi tên chỉ tiêu khác nhau, sắp xếp vào các nội dung khác nhau, tác giả đi hướng vào các nhà quản trị với mục tiêu ra quyết định nên đối với quyết định huy động vốn, tác giả sử dụng các chỉ tiêu phân tích tài chính sau: Thứ nhất, các chỉ tiêu phản ánh nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán Thứ hai, tỷ trọng từng loại nguồn vốn. 4 luan an Thứ ba, các chỉ tiêu phản ánh về hoạt động tài trợ như: vốn lưu chuyển, chi phí sử dụng vốn bình quân, hệ số tự tài trợ, hệ số tài trợ thường xuyên.
- Nhóm các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu phân tích tài chính phân tích tình hình sử dụng vốn: Đối với các công trình trong nước, Trong các sách giáo trình, sách tham khảo, sách chuyên khảo, luận án tiến sỹ kinh tế nhận thấy có nhiều quan điểm giống nhau về chỉ tiêu phân tích tình hình sử dụng vốn.