Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và dịch vụ giao nhận vận tải đường biển. - Chương 2: Phân tích thực trạng về năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Sagawa Express Việt Nam trong lĩnh vực giao nhận vận tải đường biển. - Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh giao nhận vận tải đường biển của công ty Sagawa Express Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ LÝ THUYẾT VỀ GIAO NHẬN VẬN TẢI ĐƢỜNG BIỂN 1.1 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh.
Khái niệm cạnh tranh theo kinh tế học là một hiện tƣợng đƣợc gắn liền với nền kinh tế thị trƣờng. Khái niệm cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển sản xuất hàng hóa và đƣợc sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi một ngành, một khu vực và cho cả một quốc gia. Theo cấp độ vi mô, cạnh tranh là việc đấu tranh hoặc lôi kéo khách hàng, thị phần, nguồn lực từ các đối thủ cạnh tranh chủ yếu. Ngày nay, bản chất của cạnh tranh không phải là triệt tiêu đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ cạnh tranh để khách hàng có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.
Quan điểm cạnh tranh mới : - Ranh giới giữa các ngành chỉ là tƣơng đối. - Các ngành kinh doanh mang tính đa dạng. - Doanh nghiệp ngày nay chỉ tƣợng tƣợng ra xu hƣớng tƣơng lai. - Cạnh tranh bằng cách phục vụ khách hàng tốt nhất để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ của mình.
- Cạnh tranh để giành cơ hội hơn là giành thị phần. - Đƣa ra một chu kỳ mới và một vòng đời sản phẩm mới. Cũng nhƣ trong các lĩnh vực khác, hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực giao nhận vận tải là một quá trình diễn ra không ngừng nhằm nâng cao các dịch vụ, các giải pháp về chi phí, uy tín cho khách hàng ngày càng cao hơn. Vì vậy không có giá trị tiện ích nào tồn tại vĩnh viễn mà luôn có những dịch vụ, giải pháp mới ra đời.
Do đó doanh nghiệp nào hài lòng với vị thế đang có của mình 5 trên thƣơng trƣờng sẽ mau chóng rơi vào tình trạng tụt hậu và sẽ bị đào thải trong một môi trƣờng kinh doanh khắc nghiệt ngày càng phát triển và có nhiều biến động. Nhƣ vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải là hoạt động cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực và cùng phân khúc thị trƣờng nhằm thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị trƣờng và tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc cung cấp các dịch vụ, giải pháp ngày càng tốt hơn cho khách hàng. Lợi thế cạnh tranh. Theo Michael Porter, lợi thế cạnh tranh là những giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng và khách hàng chấp nhận thanh toán mọi chi phí thậm chí cao hơn đối thủ cạnh tranh để đạt đƣợc những giá trị khác biệt đó.
Khi một doanh nghiệp có đƣợc lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp đó sẽ có cái mà các đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm đƣợc những việc mà các đối thủ khác không thể làm đƣợc. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Tuy nhiên, giống nhƣ cạnh tranh, không có lợi thế cạnh tranh nào tồn tại vĩnh viễn ngoại trừ những công ty độc quyền. Các cơ sở của lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh đƣợc tạo ra theo mô hình sau: Hình 1.1 Mô hình các yếu tố quyết định của lợi thế cạnh tranh (Nguồn: James Craig và Rober Grant, “Strategy Management”, 1993).
6 Đây là mô hình này thể hiện sự kết hợp giữa quan điểm của tổ chức công nghiệp (IO) và quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV). Để xác định đƣợc các lợi thế cạnh tranh của Doanh nghiệp, trƣớc hết phải phân tích môi trƣờng vĩ mô và cạnh tranh ngành. Sau đó, phân tích nguồn lực nội bộ để xác định các nguồn gốc bên trong của lợi thế cạnh tranh, bao gồm những nguồn lực có giá trị hiếm, các tiềm lực tiêu biểu, những năng lực cốt lõi và khác biệt của công ty, từ đó nhận dạng đƣợc các lợi thế cạnh tranh trong phối thức và nguồn lực. Theo phân tích của Michael Porter, lợi thế cạnh tranh bền vững chỉ có thể đạt đƣợc thông qua chi phí thấp hoặc sự khác biệt hóa về dịch vụ, sản phẩn trong thị trƣờng.2 Các lợi thế cạnh tranh của Porter (Nguồn: Michael Porter, “Competitive Advantage”, 1985).
Để tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, doanh nghiệp cần phải nhận biết và nâng cao hiệu quả các hoạt động, nâng cao chất lƣợng, đồng thời đổi mới và nâng cao sự thõa mãn khách hàng. Theo Michael Porter, khối tổng thể đƣợc xây dựng nhƣ sau: 7 Hình 1.3 Xây dựng các khối tổng thể của lợi thế cạnh tranh (Nguồn: Michael Porter, “Competitive Advantage”, 1985). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp giao nhận vận tải là năng lực về thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong việc đƣa ra các giải pháp tốt nhất về chất lƣợng, chi phí vận chuyển và thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng. Do đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp giao nhận trƣớc hết phải đƣợc tạo ra từ chính thực lực của doanh nghiệp.
Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ đƣợc tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trƣờng. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.1 Các yếu tố bên trong 1.1 Năng lực động Năng lực động của doanh nghiệp là khả năng sử dụng hợp lý và hiệu quả của nguồn lực để đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh trong môi trƣờng kinh doanh luôn luôn biến động. Theo Teece DJ, Pisano G & Shuen A (1997), năng lực động 8 đƣợc định nghĩa là : “ khả năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại tiềm năng của doanh nghiệp để đáp ứng với thay đổi của môi trƣờng kinh doanh”.4 Năng lực động của doanh nghiệp Trong mô hình trên, ba biến độc lập đầu đƣợc kế thừa từ nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Đình Thọ và ThS. Nguyễn Mai Trang (2009) và các nhà nghiên cứu khác trên thế giới.
Hai biến còn lại là “định hƣớng học hỏi và Doanh thu” đƣợc thay thế bằng “ năng lực sáng tạo và định hƣớng kinh doanh” sau khi tham khảo ý kiến của các chuyên gia và nghiên cứu của tác giả nhằm thích hợp hơn với đặc điểm và tình hình của doanh nghiệp nghiên cứu. Năng lực Marketing Theo nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Đình Thọ và TS. Nguyễn Thị Mai Trang, 2009, việc đánh giá năng lực marketing của doanh nghiệp đƣợc thực hiện thông qua bốn thành phần cơ bản sau: - Đáp ứng khách hàng: thể hiện sự đáp ứng của doanh nghiệp theo sự thay đổi về nhu cầu và ƣớc muốn của khách hàng. - Phản ứng với đối thủ cạnh tranh: thể hiện sự theo dõi của doanh nghiệp đối với các hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh.
- Thích ứng với môi trường vĩ mô: thể hiện việc doanh nghiệp theo dõi sự thay đổi của môi trƣờng vĩ mô để nắm bắt các cơ hội và rào cản kinh doanh. 9 - Chất lượng mối quan hệ với đối tác: thể hiện mức độ doanh nghiệp đạt đƣợc chất lƣợng mối quan hệ với khách hàng, nhà cung, nhà phân phối và các cấp chính quyền có liên quan. Định hướng kinh doanh Có nhiều quan điểm về định hƣớng kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu về định lƣợng kinh doanh thƣờng dựa vào lý thuyết về qui trình quyết định chiến lƣợc và xây dựng khái niệm định hƣớng kinh doanh ở cấp độ doanh nghiệp với hai thành phần chính.
- Năng lực chấp nhận mạo hiểm: thể hiện năng lực chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp trong việc đầu tƣ nguồn lực cho các dự án kinh doanh có khả năng thu lợi cao. - Năng lực chủ động: thể hiện năng lực của doanh nghiệp trong việc dự báo các yêu cầu của thị trƣờng trong tƣơng lai và khả năng chủ động đáp ứng với đòi hỏi này. Các doanh nghiệp phải chủ động và tiên phong trong đề xuất và thực hiện các ý tƣởng mới. Năng lực sáng tạo Năng lực sáng tạo thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra những phƣơng pháp quy trình sản xuất mới, sản phẩm, dịch vụ mới hay là ý tƣởng mới nhằm làm tăng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Damanpour F, 1991).
Năng lực sáng tạo trong các doanh nghiệp giao nhận là năng lực của doanh nghiệp trong việc đƣa ra những giải pháp mới về quản lý chi phí, quản lý chất lƣợng, và đƣa ra những dịch vụ mới từ những nguồn lực sẵn có để thỏa mãn các nhu cầu về vận chuyển của khách hàng. Năng lực tổ chức dịch vụ Năng lực tổ chức dịch vụ của doanh nghiệp thể hiện năng lực của doanh nghiệp trong việc nổ lực xây dựng hình ảnh trong khách hàng và thực hiện mục tiêu kinh doanh.Berry (1985), có ba yếu tố mà doanh nghiệp tạo đƣợc chổ đứng trên thị trƣờng đó là: 10 - Thái độ và cung cách phục vụ của nhân viên: thể hiện sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. - Năng lực phục vụ của nhân viên: kỹ năng và trình độ chuyên môn của nhân viên để thực hiện yêu cầu của khách hàng. - Tín nhiệm: tạo lòng tin cho khách hàng là tin cậy vào công ty.
Danh tiếng doanh nghiệp Danh tiếng doanh nghiệp thể hiện qua nhiều yếu tố nhƣ kết quả hoạt động, môi trƣờng làm việc, chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ, và trong các yếu tố đó khả năng điều hành doanh nghiệp, tầm nhìn của CEO và ban lãnh đạo…đóng vai trò quan trọng. Đặc biệt, danh tiếng cá nhân của chính CEO có ảnh hƣởng không nhỏ đến danh tiếng của doanh nghiệp. Một CEO bê bối chắc chắn sẽ không tại vị đƣợc lâu trong thời đại nhiều sức ép này, trong khi cách cƣ xử của những CEO lừng danh nhƣ Bill Gates của Microsoft hay Jeff Bezos của Amazon.com lại tô điểm thêm hình ảnh của công ty họ.