CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG 1. KHÁI NIỆM HIỆU QUẢ KINH DOANH : 1. Khái niệm: Trong điều kiện kinh tế hiện nay, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù được mọi doanh nghiệp cũng như toàn xã hội quan tâm. Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của đơn vị để đạt được các mục tiêu đề ra.
Hiệu quả kinh doanh còn thể hiện sự vận dụng khéo léo các yếu tố của các nhà quản trị doanh nghiệp, giữa lý luận và thực tiễn nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công để nâng cao lợi nhuận. Hiểu một cách đơn giản, hiệu quả kinh doanh là kết quả tối đa đạt được trên chi phí bỏ ra tối thiểu. Kết quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh = Chi phí kinh doanh (Nguồn: Nguyễn Thị Mỵ, Phan Đức Dũng, 2006, p.245) Nâng cao hiệu quả kinh doanh là một trong những biện pháp cực kỳ quan trọng của các doanh nghiệp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Do vậy, phân tích hiệu quả kinh doanh là một nội dung cơ bản trong việc phân tích tình hình doanh nghiệp nhằm góp phần cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển không ngừng.
Mặt khác, hiệu quả kinh doanh còn là chỉ tiêu đánh giá kết quả, góp phần tăng thêm sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường. Khi phân tích hiệu quả kinh doanh, các chỉ tiêu cần được xem xét gắn với thời gian, không gian và môi trường của các chỉ tiêu nghiên cứu. Bên cạnh đó, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp còn được đặt trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế và trách nhiệm bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên. Phân tích hiệu quả kinh doanh cần phải kết hợp phân tích nhiều chỉ tiêu ở các bộ phận của quá trình kinh doanh như chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu, vốn vay, chi phí,… Hay ta có thể phân tích từ chỉ tiêu tổng hợp đến chi tiết, từ đó 5 khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, và đưa ra những thông tin hữu ích là cơ sở để đưa ra các quyết định phục vụ quá trình kinh doanh.
Bản chất của hiệu quả: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh. Chính việc hạn chế nguồn lực và việc phải sử dụng chúng có tính chất cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực.
Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu lực của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả kinh doanh cần phải đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu hay chi phí nhất định. Chi phí ở đây có thể hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội của sự lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua. Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kế toán và phải loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi thế kinh tế thực.
Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn. Vai trò của hiệu quả: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, các doanh nghiệp phải tìm kiếm đầu ra và đầu vào. Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào thị trường và sự quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của đơn vị. Do đó, việc đánh giá hiệu quả kinh doanh có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là trong quá trình hội nhập quốc tế như hiện nay.
Vai trò của hiệu quả kinh doanh được thể hiện ở các mặt sau: Đối với nền kinh tế: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, góp phần tạo sự tăng trưởng, nâng cao mức sống xã hội, giữ vững trật tự và an ninh xã hội. 6 Đối với doanh nghiệp: Trong cơ chế thị trường, hiệu quả kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng, nó quyết định khả năng cạnh tranh, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cỏn biểu hiện qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả.
Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận với chi phí thấp, nhưng điều này lại phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, vào trình độ công nghệ kỹ thuật và khả năng quản lý của nhà quản trị. Đối với người lao động: Khi doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì sẽ mang lại cho người lao động công việc và thu nhập ổn địn, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện và nâng cao. Bên cạnh đó, môi trường làm việc cũng sẽ được cải thiện đáng kể. Đáp lại, người lao động sẽ yên tâm làm việc, gắn bó và hết lòng phục vụ doanh nghiệp, năng suất lao động được nâng cao, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh doanh: Thông tin từ việc phân tích hiệu quả kinh doanh sẽ cung cấp cho các đối tượng quan tâm để họ có cơ sở khoa học, đưa ra các quyết định hữu ích: Đối với nhà quản trị như ban Tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị, trưởng các bộ phận, phòng ban, … sẽ tiếp nhận các thông tin từ việc phân tích để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn, chi phí, … tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp. Từ đó, họ sẽ dựa vào những mặt tích cực để đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư như cổ đông, các công ty liên doanh, liên kết, … thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận, cổ tức, … để đưa ra các quyết định như đầu tư thêm, hay rút vốn nhằm thu lợi nhuận cao nhất và đảm bảo an toàn cho vốn đầu tư. Đối với các đối tượng bên ngoài như ngân hàng, kho bạc, công ty tài chính, … sẽ dựa vào những phân tích hiệu quả kinh doanh để có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định cho vay ngắn hạn hay dài hạn, nhiều hay ít vốn nhằm thu hồi được vốn và lãi, đảm bảo an toàn.
7 Với các cơ quan chức năng của Nhà nước như Thuế, kiểm toán nhà nước, cơ quan thống kê, … sẽ thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn ngân sách để kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với ngân sách; thực hiện luật kinh doanh, các chế độ tài chính có đúng không? Đánh giá tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp, các ngành,… Từ đó có kiến nghị với lãnh đạo cấp cao, góp phần hoàn thiện thể chế tài chính, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển. Bên cạnh đó, thông tin phân tích hiệu quả kinh doanh còn cung cấp cho cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp biết được thực chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh trong tương lai để từ đó họ an tâm công tác, tâm huyết với nghề nghiệp. Tóm lại, việc phân tích hiệu quả kinh doanh rất hữu ích cho nhiều đối tượng khác nhau. Do đó, khi phân tích hiệu quả cần phải xây dựng chỉ tiêu, hệ thống đánh giá và các phương pháp đánh giá phù hợp cho từng đối tượng, để đưa ra các quyết định phù hợp.
Từ những vai trò, ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh doanh trên, khi phân tích hiệu quả cần đảm bảo một số quan điểm sau: Đảm bảo tính toàn diện và tính hệ thống, cần chú ý tất cả các mặt, các yếu tố của quá trình sản xuất khi đánh giá hiệu quả. Đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích cúa doanh nghiệp với lợi ích của xã hội và mục tiêu chiến lược của nhà nước. Đảm bảo hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải gắn với lợi ích người lao động và giữ gìn bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước toàn cầu hóa nền kinh tế, và đang chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới thì việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp để khẳng định con đường, chiến lược mà doanh nghiệp đang lựa chọn không bị chệch hướng có vai trò rất quan trọng.
Hiện nay có nhiều phương pháp để phân tích hiệu quả kinh doanh tùy thuộc vào nội dung, mục tiêu mà doanh nghiệp hướng đến. Mỗi phương pháp sẽ phù hợp với những mục tiêu và nội dung phân tích khác nhau. Những phương pháp đánh giá hiệu quả trước đây chủ yếu sử 8 dụng các thước đo tài chính, những dữ liệu quá khứ. Tuy nhiên, các thước đo tài chính còn bộc lộ nhiều hạn chế khi chỉ đưa ra các kết quả trong quá khứ thiếu đi sức mạnh dự báo và thường bị bóp méo số liệu để phục vụ cho những mục tiêu ngắn hạn.
Thước đo tài chính dần trở nên lạc hậu và không còn phù hợp với thời kì cạnh tranh thông tin và hoạt động tạo ra giá trị của tổ chức ngày càng chuyển từ sự phụ thuộc vào tài sản vật chất, hữu hình sang tài sản vô hình, phi vật chất. Để đáp ứng được những yêu cầu mới, hệ thống bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC) ra đời, giúp các tổ chức chuyển tầm nhìn và chiến lược thành những mục tiêu và thước đo cụ thể để đo lường thành quả hoạt động của tổ chức. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ sử dụng một phương pháp khác với các phương pháp truyền thống trước đây.