Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1. Khái quát về cổ đông và cổ đông thiểu số 1. Khái niệm về cổ đông Theo khoản 2 Điều 3 LDN 2014 “cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần”. Cổ phần chính là vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, cũng chính là phần vốn nhỏ nhất của CTCP.
Theo quy định LDN 2014, tư cách cổ đông của tổ chức, cá nhân có thể được xác lập trong các trường hợp sau: đăng ký mua cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp; mua cổ phần do công ty chào bán trong phạm vi cổ phần được quyền chào bán; nhận chuyển nhượng cổ phần từ cổ đông của công ty; thừa kế cổ phần thuộc di sản của người để lại thừa kế; được cổ đông của công ty tặng cho; mua cổ phần được bán đấu giá để thi hành án. Tại Việt Nam, pháp luật không có quan niệm và công nhận về CTCP có một cổ đông. Nhưng trên thực tế hoạt động của một số CTCP thì có loại hình CTCP chỉ có một cổ đông chi phối hoặc biến tướng để phù hợp khi đăng ký thành lập nhưng thực tế hoạt động điều hành chỉ có một cổ đông. Trong giáo trình Luật thương mại của PGS.TS Ngô Huy Cương, “cũng có khái quát về pháp luật nhiều nước trên thế giới có thừa nhận và điều tiết Công ty cổ phần một thành viên” [6, tr.
Tại Điểm b, Khoản 1 Điều 110 LDN 2014 quy định “trong Công ty cổ phần bắt buộc phải có tối thiểu 03 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa. Mọi CTCP đều phải lập sổ đăng ký cổ đông theo quy định, sổ đăng ký cổ đông có thể là văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này. Phải được lưu trữ tại trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc trung tâm lưu ý chứng khoán. Cổ đông được quyền kiểm tra, tra cứu, trích lục, sao chép nội dung sổ đăng ký cổ đông.
Việc quy định sổ cổ đông và cách thức quản lý sổ cổ đông và thông tin trao đổi được quy định tại Khoản 2 Điều 121 LDN2014. 7 luan an Tuỳ theo cách phân loại theo quyền và nghĩa vụ gắn liền với loại cổ phiếu mà cổ đông sở hữu, cổ đông được phân thành như sau: cổ đông sáng lập, cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi. Tuỳ theo tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ trong một công ty, cổ đông được phân loại thành: - Cổ đông lớn: do điều lệ công ty cổ phần quy định tỷ lệ để được coi là cổ đông lớn trên cơ sở pháp luật hiện hành. Theo Điều 2, Thông tư số 155/2015/TT- BTC về việc hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán quy định “cổ đông lớn là nhóm người có liên quan sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành có quyền biểu quyết của công ty đại chúng; nhà đầu tư sở hữu từ 5% trở lên chứng chỉ quỹ của quỹ đóng; cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng của công ty đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; thành viên sáng lập của quỹ đại chúng”.
- Cổ đông nhỏ: Như đề cập định nghĩa về cổ đông lớn, thì có thể hiểu “cổ đông nhỏ là những cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp dưới 5% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”. Căn cứ vào khả năng chi phối của công ty, cổ đông được chia thành 02 loại: Cổ đông đa số và CĐTS. Khái niệm về cổ đông thiểu số và nhóm cổ đông CĐTS là khái niệm trên thực tế còn tồn tại rất nhiều tên gọi khác nhau và có nhiều quan điểm khác nhau chưa thống nhất như sau: Quan điểm thứ nhất khái niệm CĐTS dựa trên khái niệm của cổ đông lớn. Trong khi Luật doanh nghiệp không định nghĩa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, thì Hiện nay có văn bản luật trực tiếp quy định về cổ đông lớn đó là Luật các tổ chức tín dụng 2010.
Khoản 26 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 khái niệm“cổ đông lớn của tổ chức tín dụng cổ phần là cổ đông sở hữu trực tiếp gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần”. Như vậy, Luật đưa ra một tỷ lệ là 5% để phân ranh giới giữa cổ đông lớn và loại cổ đông còn lại trong CTCP, vì vậy có thể khái quát rằng cổ đông nhỏ hay còn gọi là CĐTS là cổ đông sở 8 luan an hữu dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết. Cách đề cập như trên là chưa hợp lý bởi vì những tỷ lệ này chưa đủ phản ánh bản chất của CĐTS, mà tỷ lệ này được quy định nhằm mục đích để ghi nhận các quyền lợi cho cổ đông lớn. Quan điểm thứ hai cho rằng loại hình CTCP là loại công ty đối vốn, nên một khi cổ đông góp nhiều vốn (cổ phần) thì sẽ có nhiều quyền hơn so với các cổ đông khác và ngược lại.
Nên từ đó hiểu rằng, CĐTS là những cổ đông sở hữu một tỷ lệ phần trăm tương đối nhỏ cổ phần có quyền biểu quyết trong CTCP. Cách tiếp cận này cũng có lý nhưng chưa đầy đủ, vì có những trường hợp các CĐTS tập hợp lại thành nhóm cổ đông, đạt được một mức chi phối thì có thể chi phối được công ty, trong khi đó các cổ đông được coi là cổ đông lớn lại có thể bị lép với bởi nhóm cổ đông này. Ví dụ trong trường hợp có 40 cổ đông, trong đó có 01 cổ đông sở hữu 22% cổ phần của công ty và 39 cổ đông còn lại mỗi cổ đông sở hữu 2% cổ phần công ty. Thông thường cổ đông có tỷ lệ cổ phần sở hữu đạt 22% thì được xem là cổ đông lớn.
Và cổ đông nắm giữ 2% là cổ đông nhỏ, các cổ đông này tập hợp lại cổ phần của mình, tạo thành nhóm cổ đông sở hữu 78% cổ phần công ty thì cổ đông sở hữu 22% cổ phần trong công ty lại ở vào vị trí CĐTS do bị hạn chế về khả năng chi phối các quyền điều hành và định đoạt trong công ty. Quan điểm thứ ba, theo quan điểm của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Xuân Hải (2018) trong cuốn giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh định nghĩa “Cổ đông thiểu số dựa trên cả hai yếu tố quan trọng: thứ nhất, là phần vốn góp của họ (tỷ lệ phần trăm có quyền biểu quyết) hay phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty. Thứ hai là khả năng trong việc tác động và chi phối đến các vấn đề quan trọng cũng như có quyền biểu quyết thông qua các vấn đề được đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông”. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Thuỳ Trang (2015) “nếu tỷ lệ cổ phần của cổ đông mà không quyết định và kiểm soát công ty thì bản thân số lượng cổ phần không thể nói lên được vị trí của cổ đông là cổ đông thiểu số hay cổ đông đa số” hay theo như Luật sư Nguyễn Ngọc Bích và Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung trong trang 349 sách Công ty, vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp 2005 thì 9 luan an cho rằng “được gọi là cổ đông ít vốn hay nhiều vốn là khi phải nói đến số lượng tiền họ bỏ ra thực tế để góp vốn vào công ty và gọi là đa số hay thiểu số là khi họ thực thi và khả năng thực hiện quyền biểu quyết”.
Từ những phân tích và nhận định trên, cho thấy việc xác định CĐTS nên theo hướng mở tuỳ thuộc cơ cấu cổ đông từng doanh nghiệp, theo đó khi nhận định CĐTS không nên chỉ căn cứ vào việc ấn định tỷ lệ sở hữu vốn cụ thể mà cần phải xem xét khả năng chi phối của cổ đông trong việc thực hiện quyền điều hành công ty. Nói một cách khác, CĐTS nên được hiểu và xác định chính xác tuỳ thuộc vào cơ cấu sở hữu thực tế trong mỗi CTCP. Theo thông lệ quốc tế về quản trị công ty tốt thì được xem là CĐTS (minority shareholders) khi mà cổ đông/nhóm cổ đông đó không có quyền biểu quyết hoặc nắm tỷ lệ cổ phần có quyền biểu quyết dưới 50%, do quy định tại luật pháp đa số các nước tiên tiến là các Nghị quyết ĐHCĐ được thông qua khi có số cổ phần có quyền biểu quyết chỉ cần từ 51% trở lên là hợp pháp. Thực tế cho thấy tỷ lệ phần vốn góp mà cổ đông nắm giữ quyết định khả năng tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát CTCP.
Theo đó, các cổ đông hoặc nhóm cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần càng cao thì khả năng chi phối các vấn đề lớn của công ty càng lớn và ngược lại. CĐTS với số vốn góp hạn chế sẽ gặp phải không ít những bất lợi khi thực hiện quyền biểu quyết các vấn đề quan trọng trong công ty, để tự bảo vệ mình những CĐTS có tiếng nói chung có thể tập hợp lại, thông qua nhóm cổ đông thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép. Về nhóm cổ đông, luật quy định rõ tại Khoản 2 Điều 114 LDN như sau: “ Nhóm cổ đông là một tập hợp các cổ đông thiểu số sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty”. Nhóm cổ đông được hình thành một cách đơn giản và linh hoạnh như: chỉ cần có từ hai cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa, khi tập hợp lại sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần hoặc ít hơn theo Điều lệ công ty quy định, sở hữu cổ phần đó liên tục ít nhất là 06 tháng.
Nhờ đó, cổ đông tự mình hoặc được gộp các cổ đông nhỏ lẻ thành nhóm cổ đông để thực hiện quyền đề cử, bầu, bổ nhiệm, miễn hội đồng 10 luan an quản trị (HĐQT), ban kiểm soát (BKS); quyền triệu tập họp đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ)…, những quy định này mang ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện các biện pháp để bảo vệ CĐTS. Trên cơ sở quan điểm về các quy định, phân tích trên về CĐTS và Nhóm cổ đông. Tác giả đề xuất khái quát khái niệm CĐTS như sau: CĐTS còn gọi là cổ đông nhỏ là cổ đông sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhỏ trong CTCP, không có khả năng chi phối, kiểm soát hoạt động của công ty một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.