CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về sở hữu chéo cổ phần 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, trước năm 2010, không có nhiều công trình nghiên cứu về sở hữu chéo. Đa số là các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành tài chính.
Và do giới hạn trong khuôn khổ một bài báo, nên vấn đề sở hữu chéo chỉ được đề cập nói chung, không phân tích chuyên sâu. Từ khoảng năm 2011, do vấn đề về sự an toàn tài chính của các ngân hàng thương mại được đặt ra, sở hữu chéo bắt đầu nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, được thể hiện qua các bài viết giảng dạy, các chương trình hội thảo, luận văn thạc sĩ… Nhìn chung, đa số đều ưu tiên đề cập đến sở hữu chéo trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về sở hữu chéo cụ thể như sau: Một, Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012 do Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia thực hiện năm 2012 đánh giá tình hình sở hữu chéo tại các tổ chức tín dụng Việt Nam. Công trình là sự thừa nhận về tình hình sở hữu chéo trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Công trình cho thấy có thể xảy ra hai dạng sở hữu chéo: (1) Ngân hàng thương mại sở hữu ngân hàng/doanh nghiệp khác, và ngân hàng/doanh nghiệp khác cũng đồng thời sở hữu ngược lại ngân hàng thương mại; (2) Ngân hàng thương mại sở hữu ngân hàng/doanh nghiệp khác, không cần sở hữu ngược lại. Hai, công trình Định hướng và giải pháp cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, xác định sở hữu chéo là một trong những nguyên nhân đe doạ đến sự an toàn của hệ thống nền kinh tế. Công trình không đề cập đến vấn đề lý luận về sở hữu chéo cũng như những giải pháp cụ thể cho yêu cầu điều chỉnh sở hữu chéo. Ba, quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại kỳ họp thứ VII, Quốc hội Khoá XIII ngày 04/9/2014 được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Ngân 5 hàng Nhà nước Việt Nam11.
Nội dung này thừa nhận rằng sở hữu chéo tồn tại ở hầu hết các hệ thống tài chính trên thế giới với quy mô và mức độ phức tạp khác nhau, gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Với đặc thù và thực trạng tình hình như trên, vấn đề sở hữu chéo của các tổ chức tín dụng Việt Nam cần được xử lý từng bước, thận trọng và bằng nhiều giải pháp đồng bộ. Bốn, công trình Sở hữu chồng chéo giữa các tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế tại Việt Nam: Đánh giá và các khuyến nghị thể chế nằm trong Chương trình giảng dạy Kinh tế FulBright của các tác giả: Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Đinh Công Khải, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Xuân Thành và Đỗ Thiên Anh Tuấn. Công trình khái quát các vấn đề lý luận về sở hữu chéo, nhận biết sở hữu chéo, tác động tích cực và tiêu cực của sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng.
Các khuyến nghị đưa ra trong bài viết được thể hiện dưới khía cạnh chính sách, không phải là giải pháp pháp lý. Năm, công trình Ngân hàng thương mại Việt Nam: Từ những thay đổi về luật và chính sách giai đoạn 2006-2010 đến các sự kiện tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015 của tác giả Nguyễn Xuân Thành công bố năm 2016 đã phân tích các tình huống sở hữu chéo của một số ngân hàng qua số liệu cụ thể. Bài viết cho rằng chính thiếu sót từ khung pháp lý đã tạo điều kiện cho sở hữu chéo giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam hình thành và phát triển. Công trình dừng lại ở sự liệt kê và phân tích tình huống cụ thể, không đánh giá và khuyến nghị về pháp lý.
Sáu, công trình Vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tại Việt Nam của tác giả Đinh Tuấn Minh trong Kỷ yếu Hội thảo 11 Nội dung này được đăng tải tại Trang thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 04/9/2014, đường dẫn https://www.vn/webcenter/portal/vi/menu/sm/chitiet/inbaiviet?dDocName=CNTHWEBAP0116211 764545&_afrLoop=408537260035000#%40%3F_afrLoop%3D408537260035000%26centerWidth%3D100 %2525%26dDocName%3DCNTHWEBAP0116211764545%26leftWidth%3D0%2525%26pageTemplate% 3D%252Foracle%252Fwebcenter%252Fsiteresources%252FscopedMD%252Fs8bba98ff_4cbb_40b8_beee_ 296c916a23ed%252FsiteTemplate%252Fgsreb7f299f_0d88_4514_a092_22e830e01a86%252FTemplate.jsp x%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl- state%3Do0os1rcao_46, truy cập lần cuối ngày 14/3/2019. 6 “Rủi ro sở hữu chéo và đầu tư chéo: thực trạng và giải pháp cho thị trường tài chính ở Việt Nam” năm 2013 đã trình bày các nội dung liên quan đến sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Công trình tạo ra một cách nhìn tổng quan về sở hữu chéo (cách hiểu sở hữu chéo, lợi ích do sở hữu chéo đem lại, tác động của sở hữu chéo.), với đối tượng nghiên cứu là các ngân hàng thương mại. Các khuyến nghị được đưa ra dưới dạng tổng quát.
Bảy, công trình Sở hữu chéo và cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại Việt Nam của tác giả Nguyễn Minh Sáng và Mai Thị Trúc Linh, trên tạp chí Công nghệ Ngân hàng năm 2013. Tác giả trình bày về mối liên hệ giữa sở hữu chéo và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam. Mặc dù công trình hướng đến đối tượng là các ngân hàng thương mại, nhưng những nội dung lý thuyết của công trình được tham khảo để tìm hiểu về sở hữu chéo nói chung. Tám, công trình Nhìn lại vấn đề sở hữu chéo tại một số quốc gia trên thế giới và một số giải pháp đối với Việt Nam của tác giả Đào Quốc Tính công bố trên Tạp chí Ngân hàng năm 2013.
Công trình đã khái quát về tình hình sở hữu chéo tại Đức, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc; đồng thời điểm qua thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam và đề xuất các giải pháp hạn chế tình hình sở hữu chéo tại Việt Nam. Bài viết không phân tích về mặt lý luận của sở hữu chéo. Các giải pháp mang tính chính sách, tổng quát, không phải là giải pháp pháp lý. Chín, công trình Giải quyết vấn đề sở hữu chéo trong tái cơ cấu hệ thống ngân hàng của tác giả Phạm Trọng Đức công bố trên tạp chí Kinh tế và Dự báo năm 2013.
Tác giả cho thấy những hệ lụy mà sở hữu chéo tạo ra cho hệ thống ngân hàng, bao gồm tình trạng “vốn ảo”, phá vỡ các quy tắc về đảm bảo an trong hoạt động tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến tính lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Tác giả đề xuất mang tính định hướng các giải pháp ngắn hạn và dài hạn để giảm những tác động tiêu cực của sở hữu chéo. Công trình không phân tích lý luận về sở hữu chéo. Mười, công trình Ma trận bòng bong của tác giả Đông Hà công bố trên Tạp chí Tài chính doanh nghiệp năm 2012.
Tác giả sử dụng trường hợp của các liên minh giữa ngân hàng và doanh nghiệp ở Đức và Nhật Bản làm bài học kinh nghiệm để điều 7 chỉnh sở hữu chéo của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Công trình không khai thác khía cạnh lý luận của sở hữu chéo, không đề cập đến nội hàm của sở hữu chéo. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Vấn đề sở hữu chéo nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở ngoài nước, ở cả khía cạnh kinh tế và pháp lý. Một số công trình tiêu biểu về sở hữu chéo như sau: Một, công trình Cross Share holding in Japan: A new Unified Perspective of the Economic System12 của tác giả Misuaki Okabe, đại học Keio, Shonan Fujisawa, Nhật Bản công bố tại Anh năm vào năm 2002 bởi Nhà xuất bản Edward Elgar.
Công trình đã cung cấp một cách nhìn toàn diện về sở hữu chéo, bao gồm: tiêu chí để nhận diện sở hữu chéo, các dạng tồn tại của sở hữu chéo; những khía cạnh tích cực, tiêu cực của sở hữu chéo. Công trình chủ yếu phân tích về mặt kinh tế, không đề cập đến nội dung điều chỉnh pháp lý. Hai, công trình Proportional between Ownership and Control in Eu litsed Companies: Comparative Legal13 công bố vào năm 2007 dưới sự phối hợp giữa ba tổ chức: Ủy ban Viện quản trị doanh nghiệp của Liên minh Châu Âu, ISS (Dịch vụ tổ chức cổ đông quốc tế – Institutional Shareholder Services) và Công ty luật đa quốc gia Shearman & Sterling của Mỹ. Công trình đã hoàn thành các nội dung sau: (i) Đánh giá được tình hình sở hữu chéo cụ thể của 19 quốc gia nằm trong chương trình nghiên cứu theo tỷ lệ %; (ii) Khái quát nội dung pháp luật về điều chỉnh về sở hữu chéo của các quốc gia.
Ba, công trình Circular Shareholdings được công bố vào tháng 8 năm 2012 bởi Công ty Đầu tư và Chứng khoán Hàn Quốc.14 Công trình tập trung vào các nội dung: yêu cầu, tính cần thiết về việc phải điều chỉnh pháp lý đối với sở hữu chéo; Những mặt tích cực, tiêu cực khi sở hữu chéo được điều chỉnh bằng quy định pháp 12 Tác giả tạm dịch: Sở hữu chéo tại Nhật Bản: Quan điểm mới dưới khía cạnh kinh tế. 13 Tác giả tạm dịch: Tỷ lệ giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát trong các công ty niêm yết tại Liên minh Châu Âu: So sánh về mặt pháp lý. 14 Tác giả tạm dịch: Sở hữu vòng tròn. 8 luật; Các giải pháp pháp lý được đặt ra khi điều chỉnh sở hữu chéo đối với các trường hợp sở hữu chéo hình thành mới, sở hữu chéo đã hình thành.
Bốn, công trình Relationship Banking and Its Role in Corporate Governance của tác giả Sang –Woo Nam15, được công bố vào năm 2004 bởi Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB). Công trình cho thấy vai trò của Ngân hàng đối với vấn đề quản trị doanh nghiệp trong các tập đoàn, hàm chứa thông tin về những ảnh hưởng tiêu cực của sở hữu chéo đến sự an toàn tài chính. Năm, công trình The Relationship of Companies and Banks as cross- shareholding unwind – Fiscal 2002 cross – sharehodling survey16 của tác giả Fumio Kuroki được công bố năm 2004 tại Nhật Bản bởi tổ chức NLI Research Institue.17 Công trình công bố các nội dung sau: (i) Sở hữu chéo có thể thổi phồng giá trị tài sản; (ii) sở hữu chéo có thể tạo ra sai lệch về quyền biểu quyết. (iii) Sở hữu chéo tạo ra thiếu sót trong cơ cấu vốn, gây khó khăn cho tái cơ cấu doanh nghiệp.
Sáu, công trình Cross shareholding and Initiative effects18 của tác giả Arikawa Yasuhiro và Kato Atsushi công bố năm 2004 bởi Viện nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (RIETI).