Luận văn tốt nghiệp về tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam

Hướng dẫn thực hành Quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam: Hướng dẫn và thực tiễn từng bước, dễ hiểu, kèm hình ảnh minh họa, áp dụng ngay

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

67
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần

1.2. Khái niệm công ty cổ phần

1.3. Đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần

1.4. Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần

1.5. Một số mô hình quản lý công ty cổ phần trên thế giới

1.6. Mô hình quản lý công ty cổ phần ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN

2.1. Đại hội đồng cổ đông

2.2. Hội đồng quản trị

2.3. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

2.4. Ban kiểm soát

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ HOÀN THIỆN TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN

3.1. Những ưu điểm và hạn chế trong quy định của luật Doanh nghiệp 2020 về tổ chức & quản lý công ty cổ phần Việt Nam

3.2. Nhược điểm

3.3. Một số đề xuất

3.3.1. Đối với hoạt động lập pháp

3.3.2. Hoàn thiện chế độ công khai hoá thông tin và mức độ minh bạch trong pháp luật về quản trị Công ty cổ phần

3.3.3. Quy định chặt chẽ hơn về hoạt động thành viên hội đồng quản trị độc lập

3.3.4. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp

3.3.5. Đối với nội bộ doanh nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI CÁM ƠN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về công ty cổ phần

Công ty cổ phần (CTCP) là một hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến, được hình thành trong bối cảnh phát triển của thị trường vốn và tiền tệ. Theo Luật Doanh nghiệp 2020, công ty cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi vốn đã góp. Điều này tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Công ty cổ phần không chỉ là một hình thức tổ chức kinh doanh mà còn là một công cụ quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Sự phát triển của công ty cổ phần đã góp phần quan trọng vào việc giải phóng và phát triển sức sản xuất, tạo việc làm và tăng thu ngân sách nhà nước.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Sự hình thành của công ty cổ phần gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản. Công ty cổ phần đầu tiên được thành lập vào năm 1600 tại Anh với tên gọi Công ty Đông Ấn. Qua thời gian, công ty cổ phần đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, trở thành một hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến. Tại Việt Nam, công ty cổ phần bắt đầu xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ trước, sau khi có những thay đổi trong chính sách kinh tế. Luật Doanh nghiệp 2020 đã tạo ra một khung pháp lý rõ ràng cho việc thành lập và hoạt động của công ty cổ phần, giúp loại hình này phát triển mạnh mẽ hơn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

II. Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần

Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Ban kiểm soát. Mỗi bộ phận có vai trò và chức năng riêng, đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của công ty cổ phần. Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất, quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. Hội đồng quản trị có trách nhiệm quản lý và điều hành hoạt động của công ty, trong khi Giám đốc hoặc Tổng giám đốc thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị. Ban kiểm soát có nhiệm vụ giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và Giám đốc, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý.

2.1. Vai trò của các cơ quan trong công ty cổ phần

Mỗi cơ quan trong công ty cổ phần đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự hoạt động hiệu quả. Đại hội đồng cổ đông không chỉ quyết định các vấn đề chiến lược mà còn bầu ra các thành viên của Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị có trách nhiệm xây dựng kế hoạch phát triển và giám sát việc thực hiện các mục tiêu của công ty. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị và điều hành hoạt động hàng ngày của công ty. Ban kiểm soát đảm bảo rằng các hoạt động của công ty tuân thủ quy định pháp luật và các quy định nội bộ, từ đó bảo vệ quyền lợi của cổ đông.

III. Thực trạng và kiến nghị về quản lý công ty cổ phần

Thực trạng quản lý công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều ưu điểm nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Luật Doanh nghiệp 2020 đã có những quy định tiến bộ, tuy nhiên, việc thực thi còn gặp nhiều khó khăn. Một số vấn đề như tính minh bạch trong quản lý, quyền lợi của cổ đông chưa được đảm bảo đầy đủ. Để nâng cao hiệu quả quản lý, cần có những kiến nghị cụ thể như hoàn thiện quy định về công khai thông tin, tăng cường vai trò của Ban kiểm soát và Hội đồng quản trị độc lập. Việc này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch mà còn bảo vệ quyền lợi của cổ đông, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của công ty cổ phần.

3.1. Đề xuất hoàn thiện pháp luật

Để cải thiện tình hình quản lý công ty cổ phần, cần có những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật. Cần quy định chặt chẽ hơn về hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, đảm bảo tính độc lập và trách nhiệm của các thành viên. Đồng thời, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng cho tất cả các cổ đông.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN 1.Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần. Công ty cổ phần (CTCP) là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và thị trường tiền tệ. “Công ty cồ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển” Ở các nước khác nhau, công ty cổ phần có thể có những tên gọi khác nhau.

Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), Ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha) … Quá trình công nghiệp hoá ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ 18, 19 cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư của các nhà tư bản đã làm xuất hiện loại hình công ty cổ phần. Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt. Các chủ tư bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn nữa thế lực kinh tế của mình. công ty cổ phần là hình thức kinh doanh thoả mãn được những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản, nhu nhận định của Các Mác “Qua các công ty cổ phần, sự tập trung đã thực hiện được việc đó trong nháy mắt” Về mặt lịch sử hình thành, công ty cổ phần ra đời sau các loại công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn.

Khác với sự ra đời của hình thức công ty TNHH – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, công ty cổ phần được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý. Chẳng hạn như ở Anh, Luật công ty Luan van được ban hành lần đầu tiên năm 1844 nhưng trước đó hơn 100 năm đã có sự xuất hiện của các công ty cổ phần. Và đến năm 1856, ở Anh mới có Luật về công ty cổ phần. Công ty cổ phần xuất hiện đầu tiên trên thế giới là công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh (1600-1874).

Nó được thành lập ngày 31/10/1860 bởi một nhóm có 218 người, và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Aán, các quốc gia và hải cảng ở châu Á, châu Phi và được đi lại từ tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn và địa điểm ở châu Á, châu Phi và Mỹ hay bất kỳ địa điểm nào như thế nằm ngoài Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) và Eo biển Magellan. Ngày 01/6/1874, Công ty bị giải thể khi giấy phép lần sau cùng không được gia hạn. Công ty đầu tiên này hoạt động hết sức lỏng lẻo: “Người đầu tư góp vốn theo chuyến đi biển và sau mỗi chuyến đi biển nhận lại vốn cổ phần và tiền lãi”. Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện các công ty cổ phần theo hình thức tương tự công ty Đông Aán của Anh, rồi lần lượt công ty cổ phần xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức… Ở Mỹ, công ty cổ phần phát triển rất mạnh.

Lúc đầu là do yêu cầu phải xây dựng đường xe lửa, sau này là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán lẻ trên toàn lãnh thổ rộng lớn của Mỹ. Chính do yêu cầu tài trợ cho các công ty làm đường xe lửa mà thị trường chứng khoán ở NewYork phát triển. Năm 1811, bang NewYork ban bố luật về tính TNHH dành cho các công ty sản xuất. Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về NewYork và tính hữu hạn kia trở thành phổ biến vì bang nào không dùng đến nó là không thu hút được vốn.

Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, công ty cổ phần bắt đầu phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm…trong các nước tư bản phát triển và về sau phát triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới. Đến những năm 20, 30 của thế kỷ XIX, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sơ hạ tầng kinh tế – xã hội, Công ty cổ phần tiếp tục khẳng định là một trong những công cụ Luan van giúp thực hiện nhanh chóng vấn đề tập trung vốn. Vì vậy, có ý kiến bình luận rằng “Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích luỹ làm cho số tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn chưa có đường sắt”. Sự ra đời của công ty cổ phần đã giúp cho các nhà doanh nghiệp giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo.

Tóm lại, trải qua quá trình phát triển lâu dài, công ty cổ phần đã từ phạm vi ở một nước, một khu vực nhất định đã phát triển thành những công ty đa quốc gia, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đúng như nhận định: “Công ty cổ phần đã phát triển ở hầu hết các nước từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một quôc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty siêu quốc gia”.Khái niệm công ty cổ phần Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi tìm hiểu về công ty cổ phần. Có thể kể đến một số khái niệm về công ty cổ phần như sau: Từ điển trực tuyến Wikipedia ghi nhận khái niệm: “Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư”. Cũng có khái niệm cho rằng: “Công ty cổ phần là hình thức phát triển của sở hữu hỗn hợp, từ hình thức vốn của một chủ sang hình thức vốn của nhiều chủ diễn ra trên phạm vi công ty.

Nó là sản phẩm tất yếu của quá trình xã hội hoá về mặt kinh tế xã hội (mặt sở hữu) và cũng là sản phẩm tất yếu của quá trình tích tụ và tập trung hoá sản xuất của nền sản xuất lớn hiện đại” Ở Việt Nam, trước năm 1986, do thực hiện cơ chế quản lý quan liêu bao cấp nên hình thức công ty cổ phần cũng như các loại hình công ty thương mại khác không tồn tại. Chỉ từ khi nghị quyết đại hội Đảng VI được thông qua (1986) trong đó nhấn mạnh đường lối đổi mới nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường đã thực sự là Luan van chìa khóa mở cửa cho các loại hình doanh nghiệp phát triển. Đối với công ty cổ phần, hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại ba loại hình được điều chỉnh bởi Luật Doanh Nghiệp Việt Nam năm 2005, đó là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo hình thức công ty cổ phần (bao gồm các công ty cổ phần của nước ngoài vào Việt Nam hoạt động và các công ty của nước ngoài hoạt động ở Việt Nam được chuyển đổi thành công ty cổ phần), công ty cổ phần mới thành lập (gồm cả công ty của Nhà nước và các công ty của tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước) và công ty cổ phần do cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Tất cả các loại hình công ty cổ phần trên mới chỉ thực sự bắt đầu ở Việt Nam từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước hoặc mới có gần đây xong đã có những đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế Việt Nam.

Thực tế, Luật Doanh nghiệp 2005 đã có sự tiến bộ đặc biệt khi đưa ra định nghĩa cụ thể về công ty cổ phần trong LDN năm 1999 (Điều 51) và được nhắc lại trong LDN năm 2005 (Điều 77) như sau: “ 1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết thì không được chuyển nhượng và cổ phần của cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng hạn chế (theo khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84); 2. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận thành lập và hoạt động của công ty cổ phần; 3.Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại ra công chúng để huy động vốn. Đến luật doanh nghiệp 2014 quy định về công ty cổ phần tại Điều 110 Luật, theo đó, Công ty cổ phần (CTCP) là doanh nghiệp: Vốn điều lệ được chia thành nhiều Luan van phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật doanh nghiệp.

công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn”. Trong xu thế phát triển, với việc ban hành Luật Doanh nghiệp 2020, quy định về công ty cổ phần tại điều 111: 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp về tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Tiêu Tiến Đạt, dưới sự hướng dẫn của Thạc Sỹ Vũ Thị Thanh Lan, trình bày những vấn đề cốt lõi về tổ chức và quản lý công ty cổ phần trong bối cảnh pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý liên quan đến công ty cổ phần mà còn cung cấp những kiến thức thực tiễn về cách thức tổ chức và quản lý hiệu quả trong môi trường kinh doanh hiện đại. Đặc biệt, bài luận văn này còn chỉ ra những thách thức và cơ hội mà các công ty cổ phần phải đối mặt, từ đó đưa ra những giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả hoạt động.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý trong lĩnh vực xây dựng và đầu tư, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng. Bên cạnh đó, Nâng cao chất lượng tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng và quy hoạch Nam Trung Bộ cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về chất lượng trong quản lý dự án. Cuối cùng, Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp quản lý dự án hiệu quả trong thực tiễn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về tổ chức và quản lý trong các lĩnh vực liên quan.