Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết. Những vấn đề lý luận về tên thương mại và pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam.
Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Theo sát yêu cầu nghiên cứu của luận án, tác giả đã tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan nhằm phát hiện những điểm mà luận án có thể kế thừa và xác định những điểm luận án cần đi sâu nghiên cứu. Với tinh thần trên, tác giả tập trung tổng quan những vấn đề chính sau đây. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu về khái niệm tên thương mại và pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp. Tên thương mại và pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp được quan tâm nghiên cứu khá nhiều nhưng đa phần được thể hiện dưới dạng bài tham luận hội thảo khoa học hoặc ý kiến tranh luận trong quá trình xây dựng các văn kiện quốc tế về quyền SHTT. Đồng thời cũng có một số sách chuyên khảo nghiên cứu dưới góc độ pháp luật, đáng kể là các công trình sau: Nghiên cứu về tên thương mại và chỉ ra vai trò của tên thương mại phải kể đến các tác giả: Ian McClure, John R Olesen, John Turner 123, 127, 143, kết quả nghiên cứu cho thấy tên thương mại được ghi nhận và thực thi ở trên 200 khu vực địa lý trên toàn thế giới và mang lại những lợi thế kinh doanh cho doanh nghiệp. Tác giả ALRies & Laura Ries 1 trong công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra cách thức xây dựng và phát triển nhãn hiệu, thương hiệu của doanh nghiệp, đặc biệt tác giả tập trung nghiên cứu cách thức để duy trì sự phát triển, cạnh tranh của nhãn hiệu và thương hiệu trên thị trường, chỉ ra cho các doanh nghiệp thấy được vai trò quan trong trọng việc xây dựng, bảo vệ thương hiệu của mình.
Nghiên cứu này cũng cho thấy đa số thành công của các doanh nghiệp trên thế giới đều bắt đầu từ việc xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu của mình, các nhãn hiệu nổi tiếng lại bắt nguồn từ việc sử dụng tên thương mại của doanh nghiệp và 8 ngày nay trở thành những thương hiệu nổi tiếng trên thế giới: “trong tiến trình xây dựng nhãn hiệu, không gì gây lẫn lộn cho bằng sử dụng trọn vẹn một tên công ty”. Các tên nhãn hiệu hầu như luôn chiếm ưu thế so với các tên công ty, người tiêu dùng mua các nhãn hiệu, họ không mua công ty, do đó khi một tên công ty được dùng làm tên nhãn hiệu (GE, Coca – cola, IBM) khách hàng xem những tên này như là nhãn hiệu 116, tr. Thông cáo báo chí năm 2013 của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) đã đưa ra chủ đề “khám phá vai trò của thương hiệu trong nền kinh tế toàn cầu và sự đổi mới trong hệ sinh thái”. Báo cáo chỉ ra rằng “các công ty trên toàn thế giới đã bỏ ra gần nửa nghìn tỷ USD mỗi năm để chi cho hoạt động xây dựng thương hiệu” 145.
Francis Curry, Tổng giám đốc WIPO cho biết “một thương hiệu là hiện thân danh tiếng và là hình ảnh của doanh nghiệp. Do đó, nó là một trong những tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp, khi thị trường đã trở nên phân tán và ảo hơn thì bảo vệ các thương hiệu danh tiếng càng trở lên quan trọng” 145. Báo cáo cũng kết luận rằng: bằng chứng cho thấy rằng xây dựng thương hiệu là một trong những cơ chế quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp để bảo đảm cho việc tồn tại và phát triển. Ở các nước khác trên thế giới, việc xác lập quyền đối với tên thương mại được hình thành trên những cơ sở pháp lý khác nhau như: Sử dụng tên thương mại (đa số các nước); Đăng ký bắt buộc (ở một số nước xã hội chủ nghĩa cũ, khu vực Trung Mỹ…); Sử dụng hoặc đăng ký tên thương mại, trong đó hình thức đăng ký được khuyến khích (ở một số nước như Thụy Điển, Srilanca, Tây Ban Nha 22.
Theo công ước Paris 112:“tên thương mại được bảo hộ trong tất cả các nước thành viên mà không bắt buộc phải đăng ký, tên thương mại có thể hoặc không là một bộ phận cấu thành nhãn hiệu hàng hóa”. Vậy tên thương mại và tên doanh nghiệp có trùng nhau không? Nghiên cứu vấn đề này cần tham khảo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, đa số các quốc gia trên thế 9 giới quy định tên thương mại là tên doanh nghiệp và được sử dụng làm nhãn hiệu thương mại tạo thành thương hiệu của doanh nghiệp. Ví dụ: Pháp luật Hoa Kỳ quy định: quyền đối với tên thương mại được xác lập bằng cách ưu tiên thông qua, doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn xin bảo hộ tên thương mại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền một cách tích hợp sẽ có quyền đối với tên thương mại đó [125]. Quy định của Công ước Paris: “tên thương mại được bảo hộ có thể hoặc không là một phần của một nhãn hiệu hàng hoá” [112].
Theo quy định tại điều 41, Hiệp định TRIPS chúng ta thấy rõ hơn yêu cầu quốc tế đặt ra là “Các thành viên phải bảo đảm rằng các thủ tục thực thi quyền nêu tại Phần này phải được quy định trong luật quốc gia của mình để tạo khả năng khiếu kiện có hiệu quả đối với mọi hành vi xâm phạm các loại quyền sở hữu trí tuệ được đề cập trong Hiệp định này, trong đó có những biện pháp chế tài khẩn cấp nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm và những biện pháp chế tài nhằm ngăn chặn không để các hành vi xâm phạm tiếp diễn. Các thủ tục đó phải được áp dụng theo cách thức nhằm tránh tạo ra các hàng rào cản trở hoạt động thương mại hợp pháp và nhằm quy định các biện pháp bảo đảm cho các thủ tục đó không bị lạm dụng” 115. Các công trình nghiên cứu liên quan đến tên thương mại nêu trên đã nghiên cứu quy định của pháp luật SHTT các quốc gia trên thế giới và đưa ra các cách thức giúp doanh nghiệp bảo vệ quyền SHTT đó, đây là các tài liệu rất hữu ích mà chúng ta có thể tham khảo trong quá trình xây dựng pháp luật SHTT ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu về thực trạng thực hiện pháp luật và bảo vệ tên thương của doanh nghiệp.
Không chỉ có các công trình nghiên cứu lý luận về tên thương mại mà thực trạng thực hiện pháp luật tại các quốc gia cũng có nhiều tranh chấp đã được giải quyết để làm cơ sở tham khảo cho quá trình nghiên cứu đề tài. 10 Một số vụ tranh chấp điển hình liên quan đến việc xác định tên thương mại, nhãn hiệu của Tòa án EU như: Vụ án 9ECJ liên quan đến: “BABY DRY and DRY BABY” trong vụ việc C-383/99P – Procter&Gamble v OHIM; Hoặc án T-473/11 liên quan đến tuổi thọ sản phẩm sức khỏe v OHMI – WELEDA cho nhãn hiệu (MENOCHRON); Hoặc bản án C-420/13 liên quán đến Netto Marken giảm giá bao gồm các lĩnh vực: “ Phạm vi - Khái niệm về dịch vụ - thương mại bán lẻ dịch vụ - Mức độ yêu cầu rõ ràng và chính xác liên quan đến việc xác định các dịch vụ mà thương mại bảo hộ nhãn hiệu là tìm - Sử dụng các tiêu đề lớp của Bảng phân loại Nice cho các mục đích về việc đăng ký nhãn hiệu thương mại - Khả năng sau đó làm thay thế, bổ sung hợp báo cáo ban đầu chỉ bao gồm các chỉ dẫn hoặc các lớp học chung - Mức độ bảo vệ thương hiệu” [146]; Bản án T-199/13 liên quan DTM RICAMBI v OHMI - STAR (STAR) “Một hành động bãi bỏ mang của người nộp đơn cho các nhãn hiệu tượng trưng chứa từ yếu tố 'STAR' đối với hàng hóa lớp 7, 9 và 12 chống lại quyết định R 124/2012-1 của Hội đồng quản trị đầu tiên của phúc thẩm của Văn phòng Hài hòa hóa thị trường nội (OHIM) của ngày 24 tháng 1 năm 2013, bác bỏ kháng cáo chống lại quyết định của Bộ phận của phe đối lập từ chối đăng ký nhãn hiệu. Hay tranh chấp liên quan đến tên thương mại của các doanh nghiệp nổi tiếng với sản phẩm được tiêu dùng trên toàn thế giới như: Ngày 10 tháng 7 năm 2014, Tòa án Công lý của Liên minh châu Âu (CJEU) đã ra phán quyết trong vụ tranh chấp giữa Apple Inc v Deutches - und Markenamp (Patent Đức và Mark Văn phòng Thương mại) (C-421/13) Apple áp dụng cho một nhãn hiệu thương mại Hoa Kỳ về thiết kế cửa hàng bán lẻ của mình trong năm 2010 [146]. Các nhãn hiệu thương mại của Mỹ đã được đăng ký cho "dịch vụ cửa hàng bán lẻ có tính năng máy tính, phần mềm máy tính, thiết bị ngoại vi máy tính, điện thoại di động, thiết bị điện tử tiêu dùng và các phụ kiện và các cuộc biểu tình của các sản phẩm liên quan quyền có liên quan".
Các nhãn hiệu thương mại đã được cấp vào tháng 1 năm 2013 và Apple sau đó tìm cách mở rộng các thương hiệu quốc tế 11 theo Thoả ước Madrid. Ngày 24 tháng 1 năm 2013, Văn phòng Marks thương mại của Đức từ chối gia hạn nhãn hiệu thương mại quốc tế trên. Apple kháng cáo lên Tòa án Bằng sáng chế Liên bang của Đức, trong đó cho rằng thiết kế của cửa hàng là khác biệt từ cách bố trí thông thường của các cửa hàng bán lẻ trong lĩnh vực điện tử nên có thể được đăng ký là nhãn hiệu thương mại trong Liên minh châu Âu. Sau khi nghiên cứu CJEU cũng cho rằng Apple có thể áp dụng để đăng ký cửa hàng bố trí không chỉ đối với hàng hóa chính mình, mà còn cho các dịch vụ, miễn là các dịch vụ này không tạo thành một phần không thể thiếu của việc chào bán các mặt hàng.
Qua cách giải quyết từ các bản án cho thấy Tòa án EU đã tập trung vào các quy định của pháp luật mà các bên đã tham gia để giải quyết sao cho phù hợp nhất nhằm bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp. Từ các tài liệu đã tìm hiểu được cho thấy, hiện nay việc bảo hộ tên thương mại, nhãn hiệu, thương hiệu của các quốc gia trên thế giới đã được quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp.