CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE CÔNG TY CO PHAN, DAI HOI DONG CO DONG CONG TY CO PHAN VA PHAP LUAT VE ĐẠI HOI DONG CO DONG 1. Khái quát về CTCP 1. Khai niệm CTCP CTCP là một thực thé kinh doanh phổ biến trong nền kinh tế thị trường. CTCP cũng là loại hình kinh doanh được quy định trong pháp luật về doanh nghiệp của hầu hết các quốc gia.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2000, CTCP được hiểu là: “những công ty được hình thành trên cơ sở liên hợp của tư bản cá nhân bằng cách phát hành và bản cô phiếu và lợi nhuận của công ty được phân phối giữa các cô đông theo số lượng cô phân” [22, Tr. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2000, CTCP được hiểu là: “công ty trong đó vốn diéu lệ được chia thành nhiều phan nhỏ nhất và bằng nhau gọi là cỗ phan. Người sở hữu cổ phan của công ty gọi là cô đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trước nghĩa vụ của công ty đến hết giá trị cổ phan mà họ nắm giữ.
Công ty có quyên phát hành chứng khoán để công khai huy động vốn” [23, tr. Theo quy định tại Điều 77 LDN năm 2005 thì CTCP là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cô phan. Người chủ sở hữu cô phan là cổ đông, cổ đông có thé là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Cô đông là thành viên của công ty, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
CTCP có tư cách pháp nhân kế từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh. CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại dé huy động vốn. Đặc điểm pháp lý của CTCP Căn cứ vào các định nghĩa trên đây, có thé thay CTCP là một loại hình doanh nghiệp có các đặc điểm pháp lý như sau: - Vé thành viên công ty CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, có sự liên kết của nhiều thành viên trên cơ sở góp vốn. Vì vậy, theo thông lệ, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định số lượng thành viên (cổ đông) tối thiêu của CTCP [12, tr.
Theo điểm b khoản 1 Điều 77 LDN năm 2005 thì CTCP phải có ít nhất 03 cô đông trong suốt quá trình hoạt động, và không giới hạn số lượng tối đa. Cô đông công ty có thé là tổ chức hoặc cá nhân. - Về vốn diéu lệ Theo điểm a khoản 1 Điều 77 LDN năm 2005, vốn điều lệ của CTCP được chia làm nhiều phan bằng nhau, gọi là cổ phan. Giá trị mỗi cổ phan được gọi là mệnh giá cô phần.
Việc góp vốn vào CTCP được thực hiện bang cách mua cô phan. Pháp luật không hạn chế mỗi cô đông được sở hữu tối đa bao nhiêu phan trăm vốn điều lệ nhưng Điều lệ công ty có thé giới han tỷ lệ cô phần tôi đa của một cổ đông có thé sở hữu dé hạn chế việc một hoặc một nhóm cô đông nào đó nắm quyên chi phối công ty. - Về chuyển nhượng vốn Các cổ đông được quyền tự do chuyên nhượng cô phan của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 LDN năm 2005. Các trường hợp cổ phan bị hạn chế chuyển nhượng là cổ phan ưu đãi biéu quyết và cô phần phô thông của các cô đông sáng lập (bị hạn chế chuyển nhượng trong ba năm đầu kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Đối với các công ty đại chúng thì cổ phần được thé hiện dưới hình thức cô phiếu. Mỗi cổ phiếu có thé ghi nhận mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa được giao dịch chuyển nhượng theo các quy định của pháp luật về chứng khoán. - Về chế độ trách nhiệm CTCP chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn và tai sản của công ty.
Các cổ đông của CTCP chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số cổ phan sở hữu trong công ty. - Về quyên phát hành chứng khoán của CTCP CTCP được quyền phát hành các loại chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn. Điều này tạo cho CTCP lợi thế rất lớn trong việc huy động vốn so với các loại hình doanh nghiệp khác. - Về tư cách pháp ly CTCP có tư cách pháp nhân ké từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức, quản lý của CTCP CTCP là một thực thể phức hợp. Việc quản trị, điều hành CTCP vì thế chịu sự điều chỉnh rất chặt chẽ của pháp luật. Mô hình quản lý các CTCP được quy định trong các hệ thông pháp luật khác nhau, bên cạnh những đặc điểm chung sẽ có những nét khác biệt. Ở các nước theo hệ thống Common Law, điển hình là Hoa Kỳ, trong các CTCP, nhất là những công ty đại chúng có quy mô lớn, thường có sự phân định rõ ràng giữa quyên sở hữu và quyên quan lý công ty.
Quyền quyết định những thay đổi cơ bản về tổ chức, quan lý công ty như sáp nhập, giải thé, sửa đôi Điều 1é.thudc về cơ quan của các cô đông (Đại hội cô đông) với tư cách là chủ sở hữu công ty. Quyền quản lý công ty thuộc về HĐQT. HĐQT do PHDCD bầu ra va có quyền quyết định tat cả các van đề liên quan đến hoạt động của công ty. Mô hình như trên được gọi là mô hình quản lý một bậc [13, tr.
Ở các nước theo hệ thống Civil Law, điển hình là CHLB Đức, cơ cấu quản lý trong CTCP bao gồm hai hệ thống cơ quan: Hội đồng giám sát và Ban điều hành. Theo hệ thống quản lý này thì việc quản lý, điều hành hoạt động hàng ngày của công ty là thâm quyền của Ban điều hành. Hội đồng giám sát có chức năng cơ bản là bầu và bãi miễn thành viên của Ban điều hành và thực hiện giám sát thường xuyên các hoạt động của công ty, đưa ra các đề xuất và giải pháp dé cô đông xem xét, quyết định. Một người không thé cùng lúc đảm nhiệm công việc ở hai hệ thống cơ quan này.
Ở một số nước khác như Malaysia, Philippin, Thái Lan, Singapore., mô hình tổ chức quản lý CTCP bao gồm hai cơ quan chính là DHDCD và HĐQT. PHDCD có thấm quyền quyết định những van dé quan trọng nhất của công ty. HĐQT là cơ quan quản lý, điều hành hoạt động của công ty [9, tr. Ở nước ta, mô hình tô chức, quan lý CTCP được thiết kế theo cách tiếp cận của hệ thống pháp luật Civil Law, tuy nhiên có sự điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 95 của LDN năm 2005, bộ máy quản lý CTCP gồm có ĐHĐCĐ, HĐQT va GD (TGD). Đối với CTCP có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phan của công ty thì phải có BKS. Mỗi cơ quan trong bộ máy quản lý CTCP đảm nhiệm những quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau tương xứng với vi trí va chức nang của chúng. - DHDCD: là co quan của các cô đông trong CTCP, có thẩm quyền quyết định mọi vẫn đề quan trọng liên quan đến sự tồn tại của công ty như: sửa đôi, bồ sung Điều lệ, định hướng phát triển công ty, quyết định tổ chức lại và giải thé công ty.Quyén biểu quyết và giá trị biểu quyết của các cô đông trong PHDCD có thé khác nhau, phụ thuộc vào loại cô phần mà họ sở hữu.
Những van dé này được quy định cụ thé trong LDN và Điều lệ công ty. - HĐQT: là cơ quan quản lý công ty, có quyền quyết định mọi van đề liên quan đến quản lý, điều hành công ty, trừ những vấn đề thuộc thâm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT do DHDCD bầu và bãi miễn. Thành viên HĐQT thường là các cô đông lớn của công ty hoặc người không phải là cổ đông công ty nhưng có năng lực, kinh nghiệm quản lý hoặc kinh nghiệm chuyên môn liên quan đến những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty.
- GD (TGD): là người được HĐQT lựa chọn, bồ nhiệm dé trực tiếp điều hành hoạt động của công ty. GD (TGD) là đại điện pháp nhân của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định khác. - BKS: là cơ quan do DHDCD bau ra dé thực hiện việc giám sát HĐQT, GD (TGD) trong hoạt động quan lý, điều hành công ty và trong việc thực hiện các nghị quyết của DHDCD. Với mô hình tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy quản lý CTCP như trên sẽ đảm bảo cho hoạt động của công ty được diễn ra nhịp nhàng, hiệu qua, đồng thời được kiểm soát chặt chẽ dé bảo vệ quyền lợi chính đáng của các cô đông và của công ty.
Đại hội đồng cỗ đông CTCP 1. Khai nệm DHDCD Theo quy định tại khoản 1 Điều 96 LDN năm 2005 thi: “DHPCD gầm tat cả các cô đông có quyên biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của C7CP'. Khái niệm trên đây vừa phản ánh được bản chất pháp lý của DHDCD, vừa thể hiện được vị trí, vai trò của cơ quan này trong cấu trúc quản lý của CTCP. Đặc điểm của ĐHĐCĐ Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt động của CTCP, có thể nhận thấy ĐHĐCĐ có những đặc điểm sau đây: - PHDCD là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP Trong bộ máy quản lý của CTCP có rất nhiều cơ quan khác nhau với những vi trí, vai trò va chức năng, nhiệm vụ khác nhau.
Trong đó, DHDCD — nơi tập hợp các cổ đông có quyền biểu quyết — là cơ quan có thâm quyền quyết định cao nhất của công ty. Thâm quyền này thé hiện ở chỗ DHDCD có quyền biểu quyết thông qua những van dé quan trọng nhất liên quan đến tổ chức, hoạt động của CTCP, như: thông qua chiến lược kinh doanh của công ty, sửa đôi, bô sung Điều lệ, quyết định tô chức lại, giải thê công ty, v. Bên cạnh đó, DHDCD còn bầu ra các cơ quan khác là HĐQT và BKS và trực tiếp giám sát hoạt động của các cơ quan này.