Chương I : Những vấn dé chung về Tổng Công ty Nhà nước, tập đoàn kinh doanh trên thế giới. Chương 2 : Thực trạng pháp luật quy dịnh về Tổng Công ty Nhà nước ở Việt nam. Chương 3 : Một số vấn dé hoàn thiện pháp luật về Tổng Cong ty Nhà nước Ở Việt nam hién nay. PHAN KET LUAN ’ CHUONG | NHŨNG VAN DE CHUNG VE TONG CÔNG TY NHÀ NƯỚC VA TAP DOAN KINH DOANH 1.
NHUNG VAN ĐỀ CHUNG VỀ TONG CONG TY NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM to. SỰHÌNH THÀNH TONG CÔNG TY NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM Trước khi long Cong ty ra dời, các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta được quan lý theo hình thức tổ chức kinh doanh, đó là Liên hiệp xí nghiệp. Theo quyết định số 27/HDBT ngày 22-3-1989 của Hội đồng Bộ trưởng, thì việc thành lập Liên hiệp xí nghiệp nhằm tăng cường quản lý theo ngành kinh tế kỹ thuật, kết hợp quản lý với ngành với quan lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, tang cường chỉ đạo pháp lệnh từ trên xuống, bao đảm các cân đói lớn của Nhà nước. Theo quyết định này có hai loại Liên hiệp xí nghiệp.
e _ Liên hiệp xí nghiệp chung (Liên hiệp xí nghiệp hạch toán báo sổ). Trong Liên hiệp này các doanh nghiệp có quan hệ mật thiết trong quá trình kinh doanh tự nguyện tham gia nhằm mở rộng quan hệ phân công và hiệp tác sản xuất kinh doanh, Liên hiệp có tư cách phấp nhân và dược thành lập theo để nghi của các đơn vị thành viên. Điều đáng chú ý là tài sản các Liên hiệp chỉ bao gổm tài sản cố dịnh và vốn lưu động, các loại quỹ tập trung do cơ quan Liên hiệp trực tiếp quản lý chứ không bao gôm tải san và vốn của các doanh nghiệp thành viên. ° Liên hiệp xf nghiệp thuộc ngành kinh tế kĩ thuật đặc thù (hay Liên hiệp xí nghiệp hạch toán tập trung), Đó là Liên hiệp xí nghiệp thuộc các ngành bưu điện, đường sắt, điện lực, hàng không.
Các Liên hiệp xí nghiệp này hoạt động theo nguyên tắc quản lý tập trung cả về kế hoạch, tài chính, tổ chức hạch toán kinh tế, Tài sản và vốn của Liên hiệp xí nghiệp bao gồm toàn Bộ Tài sản và vốn của các don vị thành viên. Như vậy Liên hiệp xí nghiệp vừa thực hiện chức năng quản lý sẵn xuất kinh doanh, vừa thực hiện chức nang quan lý theo ngành (quản lý Nhà nước). Nhưng trên 10 thực té Liên hiệp xí nghiệp không có kha năng thực hiện đồng thời cả hai chức năng quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý Nhà nước về kinh tế. Bởi vì một mặt Liên hiệp xí nghiệp không phải là chủ thể kinh doanh thống nhất, mặt khác do chức năng quản lý Liên hiệp xf nghiệp trở thành cấp trung gian giữa Bộ chủ quản và doanh nghiệp.
Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có sự quan lý của Nhà nước, loại hình Liên hiệp xí nghiệp với tất cả các hình thức biểu hiện khác nhau đã bộc lộ ngày càng rõ những khiếm khuyết và sự bất cập với cơ chế quan lý mới. Đặc biệt là khi thực hiện chủ trương đăng ký thành lập lại các doanh nghiệp Nhà nước theo quyết định 388/HDBT của Hội đồng Bộ trưởng thì tính chất trung gian của Liên hiệp xí nghiệp trở thành vật can đối với quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên; đặc biệt mau thuẫn về lợi ích giữa các don vị thành viên và cơ quan Liên hiệp ngày càng bộc lộ rõ. Trong quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, việc tìm tòi hình thức tổ chức kinh doanh thích ứng để thiết lập và tăng cường quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp có mối liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình kinh doanh, phát huy quyền chủ động và tính tự chịu trách nhiệm của các đoanh nghiệp thành viên là một yêu cầu cấp thiết. Vì vậy, ngày 7 tháng 3 năm 1994 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 90/TTg về tiếp tục sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, theo đó các Liên hiệp xí nghiệp dù còn tên cũ hay lấy tên mới là Tổng Công ty song tính chất của mô hình tổ chức này đã thay đổi.
Xét về tư cách pháp lý thì Tổng Công ty là doanh nghiệp tự chủ thể hiện đặc biệt ở điều kiện hạch toán kinh tế, Đồng thời theo quyết định 91/TTg ngày 7 tháng 3 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ thì một mô hình mới ra đời là tập doàn kinh doanh. Mô hình này có ý nghĩa là sự liên kết kinh doanh nhằm tạo ra sức mạnh là điều đặc biệt cần thiết trong điều kiện hoạt động kinh tế hiện nay. Theo quyết định này các đơn vị được chọn làm thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh phải là Tổng Công ty lớn có mối quan hệ theo ngành theo vùng lãnh thổ không phân biệt doanh nghiệp trung ương hay địa phương quan lý, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bảo đảm những yêu cầu cần thiết cho thị trường trong nước và có triển vọng mở rộng quan hệ kinh doanh ra nước ngoài. Cho nên việc xây dựng mô hình Tổng Công ty Nha nước là yêu cầu đòi hỏi tất yếu của sự phát triển nền kinh tế ở nước ta, là kết quả của quá trình tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước theo đường lối đổi mới của Đảng với mô hình tổ chức Tổng Công ty Nhà nước nhằm tập hợp sức mạnh các don vị thành viên, dé tạo sức mạnh chung của Tổng Công ty tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tổng Công tỳ được xác định là một chủ thể kinh doanh thống nhất, có quyền và nghĩa vụ như một doanh nghiệp độc lập, có toàn quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và nguồn lợi khác được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh do Nhà nước giao. Các đơn vị thành viên có mối quan hệ gần bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ tin học, đào tạo, nghiên cứu tiếp thị. do Nhà nước thành lập nhằm tăng cường tích tụ, tập trung phân công hóa, chuyên môn hóa, hợp tác sản xuất kinh doanh, nâng cao khả nang cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của các don vị thành viên và của toàn Tổng Công ty đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế và giữ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần. KHÁI NIỆM, ĐẶC DIEM VỀ TONG CÔNG TY Ở VIỆT NAM * Khái niệm chung về Tổng Công ty ở Việt Nam Theo điều 43 Luật doanh nghiệp Nhà nước ban hành ngày 20-4-1995 và theo Nghị định 39CP ngày 27-6-1995 của Chính phủ ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Nhà nước, Tổng Công ty Nhà nước là doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết của các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong một số chuyên ngành kinh tế, kĩ thuật chính do Nhà nước thành lập nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nâng cao khả năng, hiệu quả kinh doanh của' đơn vị thành viên và của toàn Tổng Công ty, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Tổng Công ty Nhà nước đặc biệt quan trọng do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, các Tổng Công ty khác do Bộ trưởng quản lý ngành kinh tế, ki thuật, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương thành lập theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ. - Tổng Công ty Nhà nước có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam; tên riêng, có trụ sở chính trong nước; điều lệ tổ chức và hoạt động, bộ máy quản lý và điều hành. - Tổng Công ty có vốn và tài sản, chịu trách nhiệm đốt với khoản nợ trong phạm vi số vốn do Tổng Công ty quan lý, - Tổng Công ty có con dấu, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước và các ngân hàng trong nước và ngoài nước. Như vậy, Tổng Công ty Nhà nước được quy định là một chủ thể kinh doanh độc lập và thống nhất, có con dấu, có tài sản và có các quỹ tập trung theo quy định của Chính phủ, được Nhà nước giao và quản lý vốn tài nguyên, đất đai và các nguồn lợi khác, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được giao, thực hiện quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp Nhà nước.
Tùy theo quy mô và vị trí quan trọng, Tổng Công ty Nhà nước có hoặc không có công ty tài chính là doanh nghiệp thành viên. \ Tổng Công ty Nhà nước có thể có các loại dơn vị thành viên sau đây: + Đơn vị hạch toán độc lập + Don vị hạch toán phụ thuộc + Đơn vị sự nghiệp Các đơn vị thành viên Tổng Công ty có con dấu, được mở tài khoắn tại ngân hàng phù hợp với phương thức hạch toán của mình. Don vị thành viên là doanh nghiệp hạch toán độc lập và don vị hạch toán phụ thuộc có điều kiện tổ chức và hoạt động riêng, đơn vị sự nghiệp của Tổng Công ty có quy chế tổ chức và hoạt động riêng. Các điều lệ và quy chế này đều do Hội đồng Quan trị phê chuẩn phù hợp với pháp luật và điều lệ cụ thể của Tổng Công ty.
- Thành viên là doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập là thành viên có tư cách pháp nhân độc lập, có quyền tự chủ kinh doanh và tự chủ tài chính, chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Tổng Công ty theo quy định tại điều lệ cụ thể của Tổng Công ty. Thành viên Tổng Công ty là doanh nghiệp hạch toán độc lập chịu trách nhiệm về các khoản nợ, về cam kết của mình trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý, sử dụng. - Thành viên là các đơn vị hạch toán phụ thuộc không có tư cách pháp nhân độc lập. Tuy nhiên có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp Tổng Công ty, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Tổng Công ty.
Tổng Công ty chịu trách nhiệm cuối cùng về các nghĩa vụ tài chính phát sinh do sự cam kết của các đơn vị này.