CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE TO CHỨC QUAN LÝ CÔNG TY NHÀ NƯỚC 1. Tổ chức quản lý và vai trò của tổ chức quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về tổ chức quản lý doanh nghiệp Thuật ngữ “tổ chức” (Organization — tiếng Anh va Organisation — tiếng Pháp) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Organon”, có nghĩa là công cụ, dụng cụ - khái niệm tô chức có thé dùng cho các loại hình: tô chức chính trị, tổ chức xã hội, tô chức đoàn thể, tổ chức doanh nghiệp. Trên thực té, chúng ta có thể tô chức các phương tiện vật chất, mọt công việc; tổ chức những con người hay cả ban thân mình.
Nhu vậy, khái nệm “tô chức ”bao hàm nhiều khía cạnh và được coi là một trong những hoạt động có tích hướng đích của con người. Tổ chức quản lý trong doanh nghiệp được các nhà nghiên cứu định nghĩa khác nhau, song vẫn có điểm thống nhất chung đó là hệ thống các thiết chế và phương pháp nhằm tô chức doanh nghiệp một cách có hiệu quả, vi lợi ích cổ đông và xã hội. Hệ thống quản lý phân định rõ quyền han và nghĩa vụ giữa các thành viên, cơ quan trong doanh nghiệp như cổ đông, HĐQT, ban giám đốc và các bên khác có quyền và lợi ích liên quan. Theo tổ chức hợp tác và phát triển (OECD), quản lý và điều hành doanh nghiệp là hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý.
Cơ chế này xác định việc phan chia các quyền và nghĩa vụ giữa các cô đông, HĐQT, các chức danh quản lý, và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này doanh nghiệp tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó. Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), quản trị daonh nghiệp bao gôm hệ thông các quy chê xác định rõ môi quan hệ giữa các cô đông, các chức Daochay Haophommaseng 6 Luan van Thac sy danh quản lý, các chủ nợ, chính phủ và những người có liên quan khác cũng như hệ thông các cơ chế đảm bảo thực hiện các quy chế trên. Theo ngân hàng thé giới (WB), quan lý doanh nghiệp là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các doanh nghiệp.
Nó cho phép doanh nghiệp có thé thu hút các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu qua và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài giữa các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người liên quan và của xã hội. Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống quản lý doanh nghiệp là: tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và qua trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý, đảm bảo thực thi quyền của tất cả cô đông: các thành viên trong HĐQT có thé hoàn toàn độc lập thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyên dụng người quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết. Như vậy, quản lý doanh nghiệp trước hết bao gồm các thiết chế điều chỉnh mỗi quan hệ giữa các chủ sở hữu và điều hành bắt dau có sự tách rời. Trong CTNN, cụ thé mối quan hệ đó là giữa cơ quan chủ quản — HĐQT và giám đốc.
Vai trò của tổ chức quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tổ chức quản lý có vai trò quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một hệ thống quản lý, điều hành doanh nghiệp tốt sẽ đảm bảo lợi ích cho chủ sở hữu và tất cả các bên có quyên lợi liên quan, tạo môi trường minh bạch và thuận lợi cho đầu tư kinh doanh. Hệ thống quản lý điều hành doanh nghiệp tốt đem lại những lợi ích như: làm tăng hiệu quả vốn đầu tư, làm tăng lợi nhuận của cổ đông. Ngược lại, hệ thống quản lý, điều hành doanh nghiệp kém sẽ mang lại những hậu quả không nhỏ cho nền kinh tế và người lao động.
Daochay Haophommaseng 7 Luan van Thac sy a. Hệ thong tổ chức quan lý diéu hành tốt làm tăng hiệu quả vốn dau tư. Kết quả cuộc khảo sát năm 2001 của công ty Creddit Lyonnais Security Asia (CLSA) cho thấy tại 100 thị trường chứng khoán lớn nhất của các nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ suất doanh lợi trung bình trên vốn đầu tư vào khoảng 23,5% trong năm 2000. Trong đó, 1⁄4 các công ty dẫn đầu về hệ thống quản lý, điều hành tốt có tỷ suất doanh lợi trên vốn đầu tư khoảng 33,8%, bên cạnh đó, các công ty thuộc nhóm 1⁄2 các công ty có hệ thống quản lý, điều hành kém có giá trị doanh lợi trên vốn đầu tư chỉ khoảng 16%.
Còn đối với các CTNN của Lào, do quản lý điều hành kém đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh của đơn vị kinh tế này kéo dài trong nhiều năm. Theo báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác định lại giá tri tài sản DNNN thì thực trạng DNNN làm ăn thua lỗ là rất lớn hiện nay ở Lào. Hệ thống tổ chức quản lý điều hành doanh nghiệp tốt sẽ giảm thiểu rủi ro. Hệ thống tô chức quản lý, điều hành tốt sẽ tạo điều kiện cho Nhà nước, HĐQT có khả năng dé phòng và kiểm soát các rủi ro trong kinh doanh một các tốt hơn.
Những giảm đốc, tổng giám đốc có năng lực, được lựa chọn một cách kỹ lưỡng sẽ có khả năng tiên liệu rủi ro, đa dạng hóa rủi ro và vì thé san sang chấp nhận các cơ hội kinh doanh. Rủi ro là mặt trái của thành công trong kinh doanh. Mức độ rủi ro cao đồng nghĩa với khả năng lợi nhuận lớn và thất bại lớn. Những phân tích kinh tế, tài chính, pháp lý được thực hiện bởi các cơ quan chức năng của doanh nghiệp sẽ giúp tiên liệu và định lượng được rủi ro, xác định được mức độ thành công so với thất bại khi rủi ro xảy ra.
Những tính toán, phân tích như thế sẽ giúp doanh nghiệp thành công. Điều này đồng nghĩa với sự cần thiết phải có một bộ máy chức năng hoạt động có hiệu quả trong doanh nghiệp. Daochay Haophommaseng 8 Luan van Thac sy c. Hệ thống tổ chức quản lý, điều hành tốt tạo cơ hội nhiều hơn cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn.
Các nhà cung cấp vốn dựa ngày càng nhiều vào hoạt động quản trị các doanh nghiệp mà họ đầu tư hoặc cho vay dé đưa ra yêu cầu về trách nhiệm giải trình và nghĩa vụ thực tế của doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư và những người cho vay. Nghiên cứu do công ty McKinsey tiến hành cho kết quả sau: 82% các nhà đầu tư tại Châu A đánh giá cao yêu tô quản lý, điều hành công ty; ngược lại, 60% các nhà dau tư có tổ chức sẽ tránh đầu tư vào các công ty mà hệ thống tô chức quản lý, điều hành yếu kém; và 78% các nhà dau tư san sang trả giá cao cho cô phiêu của những công ty có hệ thống quản lý điều hành tốt. Ngoài các lợi ích trên, hệ thống quản lý, điều hành doanh nghiệp tốt còn đóng vai trò không nhỏ đối với các quốc gia và nên kinh tế đó là phần làm tăng tính cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ, làm lành mạnh thị trường vốn, tài chính, khuyến khích các hoạt động đầu tư. Tác động của hệ thong tô chức quản bp, điều hành kém.
Quản lý điều hành doanh nghiệp kém khiến cho doanh nghiệp thua lỗ hoặc đe dọa bị phá sản, thì hậu quả trước mắt có thể thấy ngay được là nguy cơ mat việc làm của những người lao động trong doanh nghiệp. Sự khó khăn sẽ đè nặng lên người lao động và gia đình của họ. Hậu quả về kinh tế, chính trị, xã hội mà chúng gây ra lớn hơn rất nhiều so với những gi chúng ta thấy trên các con số. Như vậy, tô chức quản lý có vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN nói chung trong đó có CTNN.
O tầm vi mô, vai trò của quản lý thé hiện rõ nét hơn vì hoạt động sản xuất kinh doanh của CTNN chịu sự quản lý trực tiếp của bộ máy quản lý nội bộ của doanh nghiệp. Mọi quy định của quan ly nhà nước về CTNN đều được thực hiện thông qua cơ quan quản lý nội bộ. Việc nghiên cứu những yếu tô ảnh hưởng và đặc thù của hệ thống tổ chức quản lý vi mô của CTNN sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về vân dé này. Daochay Haophommaseng 9 Luan van Thac sy 1.
Khái niệm công ty nhà nước 1. Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước và đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước Nhà nước có thé tham gia quan hệ kinh tế dưới hai tư cách: Là người quan lý kinh tế và là người đầu tư. Với tư cách là người quản lý kinh tế, Nhà nước hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô, tạo dựng môi trường đầu tư, điều tiết nên kinh tế dé đảm bao sự tăng trưởng 6n đỉnh lâu dài của nền kinh tế. Dé thực hiện chức năng này, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau: hành chính, kinh tế, luật pháp.
Với tư cách là nhà đầu tư và tiến hành các hoạt động kinh doanh. Để thực hiện được việc này, Nhà nước có thể bỏ vốn thành lập hoặc tham gia vào các doanh nghiệp với mục tiêu thu lợi nhuận hoặc dé thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội. Mặc dù tồn tại với nhiều mức độ khác nhau, nhưng hiện nay hau như tat cả các nước trên thế giới đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước. Sự tồn tại của các doanh nghiệp nhà nước này bắt đầu từ yêu cầu giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, đều tiết quy mô nền kinh tế thị trường.
Đặc biệt đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt nam, Lao thì vai trò của doanh nghiệp nhà nước càng được thé hiện rõ nét. Cùng với các loại hình doanh nghiệp khác, doanh nghiệp nhà nước Lào cũng được quy định trong Luật doanh nghiệp 2005 Lào, theo đó doanh nghiệp nhà nước được hiểu là những cơ sở sản xuất kinh doanh do nhà nước sở hữu toàn bộ hay một phần vốn góp trong doanh nghiệp.