Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. - Chương 3: Thực trạng quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam. - Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Mục đích của luận án là xây dựng được cơ sở khoa học để đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam. Do vậy, luận án sẽ nghiên cứu tổng quan trên 3 nhóm vấn đề chính: (i) DNNN và DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL; (ii) CSH nhà nước; và (iii) Quản lý của CSH nhà nước đối với DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL. Ba vấn đề trên được tổng quan theo hai nhóm: những nghiên cứu nước ngoài và những nghiên cứu trong nước có liên quan. NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƢỚC CÓ LIÊN QUAN 1.
Nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nƣớc và doanh nghiệp do nhà nƣớc nắm giữ 100% vốn điều lệ Các nghiên cứu, tài liệu từ nước ngoài về DNNN đều khẳng định DNNN là DN mà Nhà nước nắm quyền kiểm soát, chi phối. Phần lớn cho rằng quyền kiểm soát, chi phối của Nhà nước có được do sở hữu đa số phần vốn của DN. Các nghiên cứu, tài liệu khác như hướng dẫn số 80/273 (European Union), World Bank (1999), Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) và Viện Hàn lâm về Quản lý hành chính (Mỹ), (Spullber Nicolas (1997), (Rees Ray, 1989), OECD (2005) cũng đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về DNNN. Trong đó, tiêu biểu là khái niệm của OECD (2005) trong hướng dẫn quản trị công ty trong DNNN: “Thuật ngữ DNNN dùng để chỉ các doanh nghiệp mà Nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hoặc thiểu số quan trọng” [37].
Từ khái niệm của OECD (2005), dựa trên mức độ sở hữu DNNN gồm 3 loại: sở hữu toàn bộ VĐL, sở hữu đa số VĐL và sở hữu thiểu số VĐL nhưng vẫn có khả năng chi phối DN. Do vậy, DN do Nhà nước sở hữu 100% VĐL là DNNN mà Nhà nước sở hữu toàn bộ VĐL hay nói cách khác là DNNN có một CSH duy nhất là Nhà nước. Nghiên cứu v chủ sở hữu N ƣớ ối với doanh nghiệp nhà nƣớc - Lý thuyết quyền sở hữu được phát triển bởi Eirik G. Furuboth & Svetozar Pejovich (1972) [49] và sau đó được Eugenne F.
Lý thuyết quyền sở hữu đã cung cấp một phương thức phân tích DN và tổ chức của DN dù đây không phải là mục tiêu đầu tiên của nó. Theo lý thuyết này, một quyền sở hữu trên một tài sản được xác định trên 3 thuộc tính sau: (1) Quyền sử dụng tài sản này; (2) Quyền rút ra được thu nhập từ tài sản này; (3) Quyền chuyển nhượng cho một người thứ ba. Từ cơ sở của lý thuyết sở hữu, đổi mới quản trị công ty hướng tới những giá trị sau: (i) Tính công bằng - đảm bảo đối xử công bằng với mọi cổ đông; (ii) Tính giải trình - đảm bảo sự giám sát có hiệu quả từ phía HĐQT và đảm bảo có trách nhiệm giải trình của HĐQT trước cổ đông; (iii) Tính minh bạch - đảm bảo các thông tin quan trọng liên quan đến công ty đều công khai một cách kịp thời, chính xác; (iv) Tính trách nhiệm - đảm bảo các bên liên quan đều có trách nhiệm hợp tác tích cực trong việc phát triên công ty. - Trong hướng dẫn của OECD (2005) về quản trị công ty trong DNNN [65] đã đề cập đến vai trò của CSH Nhà nước.
Theo hướng dẫn này, Nhà nước cần đóng vai trò CSH có hiểu biết và tích cực, xây dựng chính sách sở hữu rõ ràng và nhất quán, đảm bảo việc quản trị DNNN được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệm với mức độ chuyên nghiệp và hiệu quả cần thiết. Cụ thể có 6 hướng dẫn về vấn đề này như sau: “(A) Chính phủ phải xây dựng và ban hành chính sách sở hữu xác định rõ mục tiêu chung của sở hữu nhà nước, vai trò của Nhà nước trong quản trị DNNN và cách thức Nhà nước sẽ thực thi chính sách sở hữu của mình. (B) Chính phủ không cần tham gia vào công việc quản lý hàng ngày của DNNN và phải cho phép DN có quyền tự chủ hoạt động hoàn toàn để đạt được mục tiêu đề ra. (C) Nhà nước cần cho phép HĐQT của DNNN thực hiện trách nhiệm của mình và tôn trọng quyền tự chủ của họ.
(D) Việc thực thi quyền sở hữu cần được xác định rõ ràng trong quản trị 10 DNNN. Điều này có thể được thực hiện thông qua thành lập một cơ quan điều phối, hoặc phù hợp hơn là bằng việc tập trung hóa chức năng sở hữu nhà nước. (E) Cơ quan điều phối hoặc sở hữu DNNN phải chịu trách nhiệm trước các cơ quan dân cử như Quốc hội và phải xác định rõ ràng mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước liên quan, bao gồm cơ quan kiểm toán tối cao của Nhà nước. (F) Nhà nước với tư cách CSH tích cực phải thực hiện quyền sở hữu theo cơ cấu pháp lý của mỗi DN.
Các trách nhiệm chính của CSH nhà nước bao gồm: (1) Tham gia Đại HĐCĐ và biểu quyết; (2) Xây dựng quy trình đề cử HĐQT cụ thể và minh bạch ở các DNNN sở hữu toàn bộ hoặc phần lớn cổ phần, và tham gia tích cực vào việc đề cử HĐQT của tất cả các DN; (3) Thiết lập hệ thống báo cáo cho phép giám sát và đánh giá thường xuyên hiệu quả của DN; (4) Trao đổi thường xuyên với cơ quan kiểm toán độc lập và cơ quan kiểm toán của nhà nước, khi mức độ sở hữu và luật pháp cho phép; (5) Đảm bảo chính sách thù lao cho thành viên HĐQT của DNNN thúc đẩy lợi ích lâu dài của DN và có thể thu hút và khuyến khích các chuyên gia trình độ cao”. - Theo nghiên cứu của Rennie, M. Lindsay (2011) [69], Chính phủ Úc đã ban hành và thực hiện chính sách cạnh tranh bình đẳng, trong đó nhấn mạnh bình đẳng giữa DNNN và DNTN. Theo đó năm 1998, Chính phủ Liên bang của Úc kết hợp 3 cơ quan hiện tại (gồm: Ủy ban Công nghiệp, Ủy ban Tư vấn Quy hoạch kinh tế và Văn phòng Kinh tế Công nghiệp) thành một thực thể mới là Ủy Ban Năng Suất (UBNS).
UBNS được thiết kế để trở thành một Ủy ban nghiên cứu độc lập và tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề liên quan. Các chức năng của UBNS có liên quan đến cạnh tranh bình đẳng bao gồm: (1) Điều tra các khiếu nại liên quan đến cạnh tranh bình đẳng về các DNNN và các hoạt động kinh doanh; (2) Báo cáo, tham mưu cho các Bộ trưởng trong các vấn đề công nghiệp và năng suất; và (3) Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ngành công nghiệp, phát triển công nghiệp và năng suất, bao gồm các vấn đề liên quan đến cạnh tranh bình đẳng [63]. Nghiên cứu về quản lý của chủ sở hữu nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhà nƣớc - Hướng dẫn của OECD [65] về quản trị công ty trong DNNN gồm các nội 11 dung sau: (1) Đảm bảo khuôn khổ pháp lý và quản lý hiệu quả cho các DNNN; (2) Nhà nước đóng vai trò CSH; (3) Đối xử bình đẳng với cổ đông; (4) Quan hệ với các bên có quyền lợi liên quan; (5) Minh bạch và công bố thông tin; (6) Trách nhiệm của HĐQT ở DNNN. Trong từng nội dung kể trên, OECD cũng có những hướng dẫn chi tiết đối với từng tiểu mục nhỏ.
Bộ hướng dẫn của OECD về quản trị công ty trong DNNN cung cấp một chuẩn mực được quốc tế công nhận giúp các Chính phủ đánh giá và cải thiện cách thực hiện các chức năng sở hữu trong DNNN. Bộ Hướng dẫn này được xây dựng trên kinh nghiệm cụ thể từ một số lượng lớn các quốc gia thành viên và không thành viên của OECD trên toàn thế giới, và cung cấp các khuyến nghị cụ thể về các biện pháp giải quyết các khó khăn trong quản trị công ty khi nhà nước là CSH. - Đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả là mục tiêu quan trọng nhất của của CSH vốn nhà nước tại các DNNN và được đo lường bằng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn CSH (ROE). Rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã phân tích và kiểm nghiệm mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên trong DN đến hiệu quả sử dụng vốn, được chia thành 2 nhóm chính như sau: Thứ nhất gồm các nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm cơ bản của DN với hiệu quả sử dụng vốn.
Trong nhóm này, các nhân tố quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn được xem xét là: quy mô công ty, cơ cấu vốn, tỷ lệ vốn góp của Nhà nước, và thời gian hoạt động của công ty. Về nhân tố quy mô công ty, các nghiên cứu của Zeitun và Tian (2007) [74], Abbasali et al (2012) [40] đã chứng minh mối liên quan thuận chiều và có ý nghĩa thống kê giữa độ lớn của tổng tài sản và khả năng sinh lợi của DN. Các nhân tố cấu trúc vốn được thể hiện trong các kết quả nghiên cứu của Fosberg và Ghosh [51], Zeitun và Tian [74], Mramor và Crnigoj [4] [63] hay Abbasali et al [40]. Các tác giả đều cho thấy hệ số nợ có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất sinh lợi trên vốn CSH.
Liên quan đến tỷ lệ vốn góp của Nhà nước, nghiên cứu của Gumbau-Albert và Maudos [54] đã phát hiện sự suy giảm hiệu quả hoạt động của công ty khi tăng tỷ lệ sở hữu của Nhà nước. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về thời gian hoạt động (tuổi của công ty) các nghiên cứu đưa ra những kết quả không đồng nhất. Nghiên cứu của Boyan Jovanovic [45] , Ericson và Pakes [4741] 12 cho rằng cho mối quan hệ đồng biến giữa tuổi của một công ty và hiệu quả hoạt động của nó, tuy nhiên nghiên cứu của Leonard-Barton [59], Agarwal và Gort [39] lại có kết quả ngược lại. Sự khác biệt này có thể là do xuất phát từ những ưu điểm và nhược điểm của các công ty lâu năm.