Tiểu luận về phục hồi kinh tế và cải cách sau đại dịch COVID-19 tại Việt Nam

Chuyên khảo kinh tế phân tích Tiểu luận thúc đẩy phục hồi kinh tế và cải cách th ch i d ch covid 19 ể ế sau đạ ị đề ấ ệ xu t cho, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo

2021

100
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Bối cảnh kinh tế Việt Nam trước đại dịch COVID 19

Trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát, kinh tế Việt Nam đã có những dấu hiệu tích cực với tốc độ tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, vào cuối năm 2019, tác động của COVID-19 đã bắt đầu hiện rõ, khi nền kinh tế toàn cầu đối mặt với nhiều khó khăn. Các chỉ số kinh tế như tăng trưởng kinh tế, tỷ giálãi suất đều có dấu hiệu chững lại. Nhiều tổ chức quốc tế đã điều chỉnh dự báo tăng trưởng, cho thấy sự bất ổn trong bối cảnh kinh tế toàn cầu. Việt Nam, với nền tảng kinh tế vững chắc, đã có những chính sách kịp thời nhằm ứng phó với những thách thức này. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào các thị trường xuất khẩu lớn đã khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động từ bên ngoài.

1.1 Tình hình kinh tế xã hội năm 2020

Năm 2020, tình hình kinh tế Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19. Tăng trưởng kinh tế giảm mạnh, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với khó khăn, thậm chí phá sản. Chính sách phục hồi kinh tế được triển khai nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động. Các gói hỗ trợ tài chính và tiền tệ đã được thực hiện để giảm thiểu tác động tiêu cực. Tuy nhiên, việc duy trì cải cách thể chế trong bối cảnh này là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

II. Tác động của COVID 19 đến kinh tế Việt Nam

Đại dịch COVID-19 đã gây ra tác động sâu rộng đến kinh tế Việt Nam. Nhiều ngành nghề, đặc biệt là du lịch và dịch vụ, đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Thất nghiệp gia tăng, đời sống người dân gặp khó khăn. Các biện pháp giãn cách xã hội đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng và sản xuất. Chính phủ đã phải đưa ra nhiều biện pháp phục hồi kinh tế để hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động. Tuy nhiên, việc thực hiện các biện pháp này cần phải đi đôi với cải cách kinh tế để đảm bảo tính bền vững và khả năng phục hồi lâu dài.

2.1 Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ nhằm giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Các gói hỗ trợ tài chính, giảm thuế, và các biện pháp khôi phục sản xuất đã được thực hiện. Tuy nhiên, việc hỗ trợ doanh nghiệp cần phải được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả để đảm bảo rằng các doanh nghiệp có thể phục hồi và phát triển trong bối cảnh mới. Đầu tư tư nhân cũng cần được khuyến khích để tạo ra động lực cho phục hồi kinh tế.

III. Định hướng và lộ trình phục hồi kinh tế

Để phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, Việt Nam cần có một lộ trình rõ ràngđịnh hướng cụ thể. Các chính sách cần phải được thiết kế để không chỉ phục hồi mà còn thúc đẩy cải cách thể chế. Việc đầu tư vào công nghệđổi mới sáng tạo sẽ là chìa khóa để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, cần chú trọng đến phát triển bền vữngan sinh xã hội để đảm bảo rằng mọi người dân đều được hưởng lợi từ sự phục hồi này.

3.1 Các biện pháp cải cách cần thiết

Việt Nam cần thực hiện các biện pháp cải cách để tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, và cải thiện môi trường đầu tư là những yếu tố quan trọng. Chuyển đổi số cũng cần được đẩy mạnh để tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Các chính sách cần phải được thực hiện một cách đồng bộ và có sự tham gia của tất cả các bên liên quan để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

01/02/2025
Tiểu luận thúc đẩy phục hồi kinh tế và cải cách th ch i d ch covid 19 ể ế sau đạ ị đề ấ ệ xu t cho vi t nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC TRƯỚC ĐẠI DỊCH COVID-19 1. Bối cảnh quốc tế trước và sau đại dịch COVID-19 1. Bối cảnh kinh tế thế giới trước đại dịch COVID-19 Kinh tế toàn cầu năm 2019 tăng trưởng chậm, đạt 2,9%, tốc độ thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Các nền kinh tế lớn đối mặt với nhiều khó khăn.

Hoạt động sản xuất, đầu tư và thương mại toàn cầu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bất định do căng thẳng giữa các nền kinh tế lớn, rủi ro địa chính trị, giá hàng hóa giảm, v. Thời điểm cuối năm 2019 đầu năm 2020, nhiều tổ chức quốc tế điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu so với các dự báo trước đó. Cụ thể, Ngân hàng Thế giới (NHTG, tháng 1/2020) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể đạt 2,5% năm 2020 (giảm 0,2% so với dự báo tháng 6/2019); Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, tháng 01/2020) dự báo mức tăng 3,3% (so với 3,4% trong báo cáo tháng 10/2019); Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, tháng 11/2020) dự báo tăng trưởng 2,9%, cùng mức tăng trưởng với năm 2019. Hình 2: Tăng trưởng kinh tế toàn cầu, 2010-2022 % Toàn Các nền kinh tế phát triển Các nền kinh tế cầu đang phát triển và mới nổi Nguồn: NHTG (tháng 1/2020).

Kinh tế các nước chủ chốt cũng tăng trưởng chậm lại. GDP Mỹ chỉ tăng trưởng 2,1% trong quý IV/2019; tính chung cả năm 2019, tăng trưởng 2,3% (so với mức 2,9% năm 2018). Trong bối cảnh lạm phát dưới mức mục tiêu và bất ổn từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung Quốc, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã quyết định giảm lãi suất 3 lần liên tiếp1 nhằm hỗ trợ nền kinh tế, đồng thời ra tín 1 Lần 1 ngày 30/7/2019 giảm 0,25% từ mức m ục tiêu 2,25% - 2,5% xu ống 2,0% - 2,25%; lần 2 ngày 18/8/2019 giảm 0,25% điểm lãi su ất cơ bản xuống còn 1,75% - 2%; và lần 3 ngày 19/9/2019 giảm 0,25% lãi su ất cơ bản xuống còn 1,5% - 1,75%. 5 hiệu sẽ không điều chỉnh trong năm 2020, trừ khi nền kinh tế Mỹ có diễn biến xấu.

Bảng 1: Đánh giá triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới trước COVID-19 Chênh lệch* 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2019 2020 2021 GDP thế giới (tốc độ tăng 3,2 3,0 2,4 2,5 2,6 2,7 -0,2 -0,2 -0,2 trưởng, %) Các nước phát triển 2,4 2,2 1,6 1,4 1,5 1,5 -0,1 -0,1 0,0 Mỹ 2,4 2,9 2,3 1,8 1,7 1,7 -0,2 0,1 0,1 Nhật Bản 2,5 1,9 1,1 1,0 1,3 1,3 -0,1 -0,4 0,0 Khu vực đồng Euro 1,9 0,8 1,1 0,7 0,6 0,4 0,3 0,0 0,0 Các nước đang phát triển và 4,5 4,3 3,5 4,1 4,3 4,4 -0,5 -0,5 -0,3 mới nổi Châu Á – Thái Bình Dương 6,5 6,3 5,8 5,7 5,6 5,6 -0,1 -0,2 -0,2 Trung Quốc 6,8 6,6 6,1 5,9 5,8 5,7 -0,1 -0,2 -0,2 Thương mại thế giới (tốc độ 5,9 4,0 1,4 1,9 2,5 2,8 -1,2 -1,3 -0,7 tăng, %) Chỉ số giá hàng phi năng 5,5 1,7 -4,7 0,1 1,7 1,7 -2,6 0,2 0,3 lượng (% tăng theo USD) Nguồn: NHTG (tháng 1/2020). Lưu ý: *: Chênh lệch dự báo năm 2019, 2020 và 2021 so với báo cáo tháng 6/2019. Tăng trưởng GDP ở mức thấp, kể cả nhiều nền kinh tế chủ chốt. Theo Cơ quan thống kê châu Âu, tăng trưởng GDP của khu vực đạt 1% trong quý IV/2019, tính chung cả năm tăng 1,2%.

Trong đó, trong quý IV/2019, tăng trưởng GDP Đức, Pháp, và Italia lần lượt đạt 0,4%, 0,8%, và 0,1%. Xu hướng thu hẹp sản xuất vẫn tiếp diễn, chỉ số PMI ngành chế tạo liên tục giảm sâu dưới mức 50 điểm (45,9 điểm tháng 12/2019); so với cùng kỳ năm 2018, sản xuất công nghiệp năm 2019 duy trì xu hướng tăng trưởng âm. Trong khi đó chi phí lao động duy trì xu hướng tăng gây áp lực lên hoạt động sản xuất kinh doanh. Lạm phát có tăng nhưng vẫn ở mức thấp (1% tháng 11/2019) và còn khoảng cách khá xa so với mục tiêu.

Kinh tế Nhật Bản gặp nhiều khó khăn do tác động tiêu cực từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung quốc. Tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu chậm lại, cùng với tác động của tình trạng thiên tai trong nước làm giảm hoạt động xuất khẩu, sản xuất, niềm tin kinh doanh. Bên cạnh đó, tác động tiêu cực từ việc tăng thuế tiêu dùng lên 10% (từ 8%) cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến giảm tăng trưởng, cụ thể GDP quý IV giảm 0,7% so với cùng kỳ năm 2018. Chỉ số PMI sản xuất liên tục giảm xuống dưới 50 điểm kể từ tháng 4/2019.

Xuất nhập khẩu đều giảm, đặc biệt xuất khẩu sang Hàn Quốc giảm mạnh. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (tháng 12/2019) tiếp tục giữ nguyên lãi suất ngắn hạn chính ở mức -0,1%, đồng thời đưa ra tín hiệu mạnh mẽ hơn về việc có thể cắt giảm lãi suất trong tương lai gần để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. 6 Trung Quốc giảm tốc với tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 6,0% trong quý III và quý IV/2019 (quý thứ 7 liên tiếp giảm tốc độ tăng trưởng). Kinh tế Trung Quốc đang phải đối mặt với những rủi ro và thách thức gia tăng: xuất khẩu liên tục giảm, tháng 12/2019 giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước; nợ công cao (tương đương khoảng 302% GDP2) đặt kinh tế Trung Quốc cũng như khu vực và toàn cầu trước nguy cơ vỡ nợ; v.

Tuy nhiên, nền kinh tế Trung Quốc vẫn có các tín hiệu “tốt hơn dự kiến” khi sản lượng công nghiệp duy trì xu hướng tăng, tháng 12 tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước (mức cao nhất 6 tháng qua), thị trường việc làm vẫn tương đối ổn định, chỉ số PMI duy trì ở mức tương đối cao (trên 51 điểm từ tháng 9/2019), đạt 51,5 điểm trong tháng 12, v. Năm 2019, căng thẳng và xung đột thương mại giữa các nền kinh tế chủ chốt vẫn diễn biến phức tạp. Mỹ - Trung Quốc đạt được thỏa thuận thương mại giai đoạn 1, chính thức có hiệu lực từ ngày 14/2/2020, trong đó cam kết tăng cường thương mại và dỡ bỏ các mức thuế đã/dự kiến áp lên một số hàng hóa của nhau. Tuy nhiên, khả năng điều chỉnh chính sách được cho là vẫn còn nhiều thách thức khi còn tồn tại nhiều bất đồng và hai bên vẫn thường xuyên có động thái gia tăng căng thẳng.

Từ tháng 7/2019, quan hệ thương mại Nhật Bản và Hàn Quốc bắt đầu leo thang, đàm phán thương mại giữa hai nước rơi vào bế tắc. Bên cạnh đó, quan hệ giữa Mỹ và EU cũng trở nên căng thẳng do vấn đề trợ cấp chính phủ cho ngành sản xuất máy bay, và Mỹ đã nâng mức thuế cho một số mặt hàng của EU. Đến cuối năm 2019, chỉ số thương mại hàng hóa toàn cầu của WTO tuy có cải thiện nhưng vẫn dưới mức xu hướng trong trung hạn, đạt 96,6 điểm tháng 11/2019, giảm xuống còn 95,5 điểm trong tháng 2/2020. Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng và giá dầu cũng bị ảnh hưởng, giá dầu biến động tăng giảm mạnh trong khoảng tháng 4 – tháng 9/20193.

Tuy nhiên, từ tháng 10, giá dầu giữ xu hướng tăng liên tục và đạt mức cao kỷ lục tại thời điểm cuối năm 2019 (giá dầu ghi nhận mức tăng cao kỷ lục kể từ năm 2016; giá dầu thô WTI và Brent lần lượt tăng 33,4% và 20,3% so với đầu năm). Đây được đánh giá là kết quả của những nỗ lực cắt giảm sản lượng của OPEC+ nhằm kéo giá dầu tăng trở lại4; cùng với triển vọng nhu cầu dầu tăng khi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung có dấu hiệu chuyển biến tích cực, lo ngại về nguồn cung do căng thẳng gia tăng tại Trung Đông và biến động sản lượng và tồn kho dầu của Mỹ; v. Cơ quan Năng lượng Mỹ (EIA) (tháng 12/2019) dự báo giá dầu bình quân năm 2020 sẽ thấp hơn 2019 trên cơ sở dự báo về lượng dầu tồn kho trên 2 https://www.com/Portals/0/Files/content/Research/Global%20Debt%20Monitor_July2020.pdf (truy cập ngày 15/8/2020) 3 Ước tính của IEA cho thấy tổng nguồn cung dầu của OPEC trong chín tháng đầu năm 2019 thấp hơn 4,6% so với cùng kỳ năm 2018. 4 Để hỗ trợ giá d ầu, tại cuộc h ọp của OPEC+ đầ u tháng 12, OPEC+ cam kết cắt giảm sản lượng 500.000 thùng/ngày từ mức giảm 1,2 triệu thùng/ngày và Ả-rập Xê-út giảm sản lượng 400.

Theo đó, tổng mức giảm sản lượng của liên minh trong quý 1/2020 lên 2,1 triệu thùng/ngày. 7 toàn thế giới sẽ tăng cao trong năm 20205 - chứ chưa có đánh giá về khả năng sụt giảm trong bối cảnh có dịch bệnh mới bùng phát. Hình 3: Thương mại, đầu tư và tăng Hình 4: Tăng trưởng sản xuất công trưởng tiêu dùng toàn cầu nghiệp toàn cầu (%) Nguồn: NHTG (1/2020). Căng thẳng thương mại không chỉ làm sụt giảm khối lượng thương mại mà còn gia tăng áp lực lên lĩnh vực sản xuất và giảm động lực đầu tư.

Theo UNCTAD (tháng 10/2019), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu tiếp tục xu hướng suy giảm, trong đó FDI toàn cầu nửa đầu năm 2019 đã giảm tới 23% so với nửa cuối năm 2018. Các nền kinh tế đang phát triển vẫn là địa điểm đầu tư hấp dẫn (chiếm 54% tổng vốn FDI toàn cầu), FDI vào các nền kinh tế phát triển tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước (đạt 269 tỷ USD nửa đầu năm 2019), trong khi FDI vào các nền kinh tế đang phát triển tương đối ổn định (đạt khoảng 342 tỷ USD, giảm 2% so với cùng kỳ năm 2018). Hoạt động M&A mặc dù vẫn diễn ra khá sôi động và ở trên mức trung bình 10 năm trở lại đây, nhưng giảm 19% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Dự báo FDI toàn cầu năm 2019 sẽ chỉ đạt mức tăng thấp khoảng 5-10%.

Các nỗ lực khuyến khích đầu tư và cải thiện chính sách thu hút đầu tư vẫn được nhiều quốc gia tích cực thúc đẩy6. An ninh quốc gia ngày càng được nhiều quốc gia sử dụng trong quá trình sàng lọc các dự án FDI.7 Trên một phương diện khác, tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực có thêm một số chuyển biến cho đến năm 2019, dù phải đối mặt với thách 5 EIA d ự báo giá d ầu thô Brent giao ngay s ẽ ở mức khoảng 61 USD/thùng năm 2020 (so với mức trung bình 64 USD/thùng năm 2019); giá dầu thô WTI th ấp hơn khoảng 5,5 USD/thùng. 6 Thống kê của UNCTAD (tháng 12/2019) cho th ấy trong giai đoạn từ tháng 5-10/2019, 30 quốc gia đã ban hành các chính sách cải thiện môi trường đầu tư, ít nhất 7 hiệp định đầu tư quốc tế đã được ký kết (nâng tổng số hiệp định đầu tư quốc tế đã ký trên toàn cầu lên 3.285 hiệp định, trong đó 2.651 hiệp định đang có hiệu lực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phục hồi kinh tế và cải cách sau đại dịch COVID-19 tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức và cơ hội mà Việt Nam đang đối mặt trong quá trình phục hồi kinh tế sau đại dịch. Tác giả phân tích các chính sách và biện pháp cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng bền vững, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cải cách trong các lĩnh vực như đầu tư, thương mại và quản lý kinh tế. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức mà Việt Nam có thể tận dụng các cơ hội mới để phát triển kinh tế, cũng như những bài học từ các quốc gia khác.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chính sách kinh tế và thương mại, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thực thi hiệp định tạo thuận lợi thương mại của WTO: Thực trạng và giải pháp, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về việc thực thi các hiệp định thương mại quốc tế. Ngoài ra, bài viết Luận án hoàn thiện chính sách thúc đẩy đầu tư chứng khoán ở Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách đầu tư và cách chúng có thể hỗ trợ phục hồi kinh tế. Những thông tin này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh kinh tế hiện tại và tương lai của Việt Nam.